Bài biên khảo: “Việt kiều” là gì?

muu-sinhb_bpaa
Hình tư liệu của báo Đất Việt (?)

Ngày 18 tháng 03 năm 2020, báo Thanh Niên đăng bài: “Hàng nghìn Việt kiều về nước vì dịch Covid-19”.

Ngày 19 tháng 03 năm 2020, báo Tiền Phong (đồng bạn với báo Thanh Niên) đã phải sửa lại cách dùng từ, trong một bài khác họ đăng tiêu đề: “TP.HCM sắp đón 17 000 người Việt từ vùng dịch về nước.” Rõ ràng, trước sức ép của dư luận, các báo thể loại này đã không còn dám gọi những người này là Việt kiều nữa.

 

So sánh cho thấy sự thay đổi trong lối dùng từ của báo Thanh Niên. Ảnh chụp màn hình.
 Báo Thanh Niên thay đổi trong lối dùng từ người Việt ở nước ngoài và Việt kiều. Ảnh chụp màn hình để so sánh.

Dưới đây là một số câu chuyện để bạn đọc thấy được tranh cãi xung quanh định nghĩa danh từ “Việt kiều”.

Cách đây mấy năm, có một đoàn cán bộ của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đi sang thăm Mỹ. Ở đó, họ gặp anh phóng viên Hoàng Đức Chân Như của đài Á châu tự do, một đài do một người Việt di tản là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sáng lập, được quốc hội Hoa Kỳ đài thọ. Đoàn đại biểu Hà Nội gọi anh Chân Như là “Việt Kiều”. Anh phản đối: “Tôi là người Mỹ, quốc tịch Mỹ, không phải Việt Kiều”.

Rõ ràng, việc bạn gọi người khác là Việt kiều đúng hay không, còn tùy thuộc vào thái độ tương quan của hai người dành cho nhau. Nếu bạn trước đây chửi người đó là ngụy quyền, rồi sau này lại gọi người đó là Việt kiều, là khúc ruột ngàn dặm, thì đương nhiên họ có quyền cãi lại bạn, vì họ đã được quốc gia sở tại cho nhập tịch, và không còn là người Việt, và có quyền từ chối danh xưng Việt Kiều.

Gần đây, dịch virus Corona. Báo đài tiếng Việt trong nước gọi “Việt kiều” cho những ai có dòng máu Việt đang đi từ nước ngoài về quê. Cách làm này bị nhiều phản đối: chẳng lẽ gọi những em đi du lịch, mới sang nước ngoài được 2-3 tháng cũng là “Việt kiều”?. Sau đó, các báo đã phải sửa tựa đề.

Ở trong nước, có trang tin điện tử Ngân hàng pháp luật, cơ quan truyền thông của tập đoàn Law Soft Corp, có đăng ký, định nghĩa rằng: “Việt kiều là Những công dân Việt Nam cư trú và sinh sống ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” (xem ảnh chụp màn hình)

Ảnh chụp màn hình định nghĩa từ "Việt kiều" của trang tin Thư viện Pháp luật.
Ảnh chụp màn hình định nghĩa từ “Việt kiều” của trang tin Thư viện Pháp luật.

Trường hợp giả định: một ông mắt xanh mũi lõ người Nga, nhập tịch Việt Nam năm 1949. Sau đó, năm 2020, ông sang Pháp du học, trong tay vẫn còn hộ chiếu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Có thể gọi ông ấy là Việt kiều không? Thưa không, bởi vì Việt kiều phải là người Việt có chủng tộc Việt. Vì vậy, định nghĩa của trang mạng Thư viện Pháp luật của tập đoàn Law Soft Corp của ông Huỳnh Thái Hiệp là sai.

Định nghĩa mang tính luật pháp này không ổn. Nó không đúng cho mọi thời và mọi nơi, vì nó bị trói buộc bởi luật pháp nhất thời, tức là tùy thuộc vào chế độ, không có tính cách trường cửu-yêu cầu của đại học. Một chế độ thì như áo, cởi ra là rồi, mà từ vựng của dân tộc thì trường tồn qua hàng ngàn năm. Một định nghĩa đúng thì phải đúng cho mọi chế độ.

Trong một thế kỷ trở lại đây, ngôn ngữ Việt đã được/bị thay đổi rất nhiều, ví dụ,  “bệnh viện” hay “nhà thương” bị đổi tên gọi và  gọi là “xưởng đẻ”. Có thể nói là tiếng Việt đang ở trong tình trạng bất trật tự. Thậm chí, có nhiều câu từ ghép viết nói theo cách Tàu. Vì vậy trong tương lai cần có Viện Hàn Lâm để cải tổ lại và thống nhất hết về chữ nghĩa.

Theo ghi nhận của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam, cho đến trước ngày hôm nay (23 tháng 03 năm 2020), chưa có chính phủ, cá nhân hay tổ chức nào đưa ra được định nghĩa chuẩn xác về danh từ “Việt kiều”. Vì vậy, ban cải cách học thuật của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam đã thực hiện bài biên khảo sau đây. Lúc đọc bài nghiên cứu này, bạn đọc không nên thụ động để bị dẫn dắt, mà nên vừa tra cứu để đi đến kết luận chuẩn xác nhất cho mình.

Trước hết, chúng tôi tìm kiếm trong t ừ điển Hoàng Phê, một từ điển tiếng Việt thuộc loại uy tín nhất hiện nay, bản in đầy đủ nhất, năm 2018, không đưa ra được định nghĩa rốt ráo về danh từ “Việt kiều”. Chỉ có định nghĩa chữ “kiều” nhưng chưa rõ ràng lắm. Xem ảnh chụp sách:

Ảnh chụp từ điển Hoàng Phê. Trang 655- Bản in năm 2018
Ảnh chụp từ điển Hoàng Phê. Trang 655- Bản in năm 2018

Theo Hoàn Phê và Viện ngôn ngữ học:

kiều là yếu tố ghép sau một danh từ riêng, tên gọi một dân tộc, để cấu tạo danh từ, có nghĩa là “kiều dân”. Hoa kiều. Việt kiều ở Mỹ.  

kiều bào là danh từ. Người dân nước mình sinh sống ở nước ngoài. Kiều bào về thăm quê.

kiều cư. động từ, ít dùng. Cư trú ở nước ngoài. Người Việt Nam kiều cư ở Pháp.

 

Rất tiếc, trong các định nghĩa trên, giáo sư Hoàng Phê không nêu ra được, thế nào là người dân nước mình. Vì từ điển Hoàng Phê không thỏa mãn được thắc mắc, nên chúng tôi tìm đến tự điển chữ Hán (gọi cho đúng phải là tự điển chữ Nho) của tác giả Thiều Chửu:

Ảnh chụp màn hình tự điển Thiều Chửu.
Ảnh chụp màn hình tự điển Thiều Chửu.

Chữ Nho “kiều”, thể đơn giản là 侨, thể đầy đủ là 僑, nghĩa là ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác gọi là kiều cư, kiều dân.

 

Để gọi một người là Việt kiều, mà không bị người đó cãi lại, thì trước hết ta và tổ chức của ta  phải coi người đó và ta là bình đẳng.

Từ thành phố San Jose, bang California, Hoa Kỳ, thân hữu Nguyễn Văn Lợi gửi đến Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam rằng:

Kiều là ở đậu. Chữ thường dùng là ‘kiều-cư’.
Việt-kiều là người Việt ở đậu nơi một quốc-gia khác, ở bên ngoài đất nước Việt Nam.
Khi một Việt-kiều nhập quốc-tịch nước sở-tại, trở thành công-dân của nước đó, thì họ không còn là Việt-kiều.
Bởi vì họ không còn ở đậu, mà là ở chánh-thức trong đất nước mình.
Khi một người từ một quốc-gia khác, đến ở đậu trong nước Việt Nam, thì ta gọi họ là ‘ngoại-kiều’, có nghĩa là ‘người nước ngoài ở đậu’.
Thí-dụ:
Ngoại-kiều Cam Pu Chia, ngoại-kiều Lào chẳng hạn.
Du-lịch, du-học không phải là ở đậu.
Ở đậu là tạm-cư hoặc định-cư để làm ăn sinh sống.
Chử kiều là động-từ, vậy có nên viết hoa?

Nhà nghiên cứu hoặc bạn đọc nào có cách giải nghĩa đúng hơn về danh từ “Việt kiều” đúng hơn bài biên khảo này, xin gửi về cho chúng tôi theo địa chỉ điện thư ghi:

nghiepdoansinhvien@gmail.com (chính thức)

hoặc trinhthingockim@gmail.com (dự phòng)

Bài viết thuộc Chương trình sửa lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp cho sinh viên Việt Nam. Xem chi tiết về chương trình này tại đây: http://bit.ly/3913NoI

Ủng hộ quỹ Cải cách học thuật của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam

Donate us

$10.00

9 comments

  1. Kiều là ở đậu. Chử thường dùng là ‘kiều-cư’.
    Việt-kiều là người Việt ở đậu nơi một quốc-gia khác, ở bên ngoài đất nước Việt Nam.
    Khi một Việt-kiều nhập quốc-tịch nước sở-tại, trỡ thành công-dân của nước đó, thì họ không còn là Việt-kiều.
    Bỡi vì họ không còn ỡ đậu, mà là ở chánh-thức trong đất nước mình.
    Khi một người từ một quốc-gia khác, đến ở đậu trong nước Việt Nam, thì ta gọi họ là ‘ngoại-kiều’, có nghỉa là ‘người nước ngoài ở đậu’.
    Thí-dụ:
    Ngoại-kiều Cam Pu Chia, ngoại-kiều Lào chẵng hạn.
    Du-lịch, du-học không phãi là ở đậu.
    Ở đậu là tạm-cư hoặc định-cư đễ làm ăn sinh sống.
    Chử kiều là động-từ, vậy có nên viết hoa?
    *
    Truyện Tây Du Ký.
    Du-ký là động-từ, vậy tại sao lại viết hoa?

    Số lượt thích

    • Tôi còn một món đồ chơi rất hay:
      Giãi-pháp chống ngập Da Beo.
      Ngập đâu chống đó.
      Hiệu-quả 100%.
      Chi-phí thấp.
      Dùng được trong cả nước.
      *
      Nếu còn chế-độ độc-tài đảng-trị, tôi sẽ không nói ra.
      Nếu chết, tôi sẽ mang xuống mồ.
      *
      Trong những năm tới, nhiều thị-xả là trung-tâm của các tỉnh sẽ bị ngập nặng.

      Số lượt thích

  2. Nước Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghỉa Việt Nam có nhiều chuyện rất buồn cười.
    Trong đó co chuyện:
    Người Việt Nam lại tạm-trú trong đất nước Việt Nam.
    Thật là quái-gỡ.
    Có người tức cảnh sanh tình viết rằng:
    *
    Tha-hương trên đất Việt.

    Tôi tha-hương ngay trong Tổ-quốc tôi

    Và tạm-trú dưới vòm trời nước Việt

    Nỗi cay-đắng xé lòng nào ai biết

    Nước mắt con người,

    mà cứ ngỡ hạt mưa rơi.

    *

    Có ai thương những phận nghèo

    Tha-phương cầu-thực kiếp bèo nổi trôi

    Cố hương mù-mịt chân trời

    Cuối năm se lạnh bồi-hồi nhớ quê

    Ðã bao cái Tết chưa về.

    Cái buồn gặm cắn làm tê cả người

    Ngoài kia phố-xá đông vui

    Ở đây xóm trọ ngậm-ngùi tha-hương

    Quê người dằng-dặc nổi buồn.

    Số lượt thích

  3. Ai đặt ra danh từ việt kiều người đó, định nghĩa theo cách nghĩ của họ. Chỉ có người Mỹ gốc việt, người Đức gốc việt… và những người học tập, làm việc ở nước ngoài

    Số lượt thích

  4. Tôi xin đóng 2 xu vào việc nầy cũng như gióng lên tiếng nói về hành vi của chóp bu của lãnh đạo.

    1. Mao Trạch Đông trong Cách Mạng Văn Hóa chủ trương làm xáo trộn xã hội bằng đấu tố, đốt sách, chôn học trò, dập chết suy nghĩ, và thay đổi ngôn ngữ và sử dụng từ ngữ để gây nhầm lẫn cho toàn dân để thống trị. Bởi cái gọi là Cách Mạng nầy, nền kinh tế Trung Quốc bị thiệt hại trong khi hàng chục triệu người bị bức hại, với số người chết ước tính lên tới từ hàng trăm nghìn đến 20 triệu.

    2. Lịch sử cận đại của Việt Nam có nhiều trùng lặp với cách làm của Mao Trạch Đông, đấu tố, cấm sách, đày đọa học trò giỏi bởi lý lịch, dập chết suy nghĩ, và giấy lên một trận đánh du kích để thay ngôn ngữ và chữ dùng để làm dân ta trang cải với mục tiêu là dân không soi sáng suy nghĩ vào những người như “Nghịch lý ở biệt thư 3 căn liền kề, thẻ golf 3 tỷ, đi máy bay hạng thương gia, tiệc tùng có ca sĩ kè kè giảng về lý tưởng vô sản.” Du kích chiến văn hóa của tập đoàn giả dạng Mác Lê nầy cần phải làm rõ cho mọi người.

    3. Cám ơn Nghiệp Đoàn Sinh Viên viết về các bài lỗi chính tả theo quan điểm Việt Nho để chống lại hỗn loạn văn hóa của những người
    … “Nghịch lý ở biệt thư 3 căn liền kề, thẻ golf 3 tỷ, đi máy bay hạng thương gia, tiệc tùng có ca sĩ kè kè giảng về lý tưởng vô sản.”

    4. Đề nghị Nghiệp Đoàn nhìn lại các bài viết về lỗi chính tả để xem xét có hệ thống “giảng về lý tưởng vô sản” đã, đang và sẽ làm gì với các làm có hệ thống của chúng trong du kích chiến văn hóa.

    Số lượt thích

  5. Thành-tựu văn-hóa lớn nhất của người Cộng Sản Việt Nam, đã đóng góp cho đất-nước và dân-tộc là:
    Nói độn và viết độn,
    Giống như cơm độn khoai mỳ lát, một lát khoai chĩ cõng chưa tới 30 hạt cơm.
    Trong câu nói độn hoặc câu viết độn của người Việt Cộng Sản, chĩ chứa khoảng 20-30% thông-tin, phần còn lại là là những thứ rối-rắm, vô-bỗ, họ cố nhét vào những chử Hán Việt đầu cua tai nheo, đao to búa lớn, chĩ nặng phần tuyên-truyền, huênh-hoang, khoác-lác.
    Lại có cái gọi là “Trường dạy viết văn”.
    Trong cái trường này, môn học chánh là ‘Văn nghị-quyết’, mục-đích của việc đào-tạo là cung-cấp chuyên-viên cho đảng và Chánh Phủ.
    *
    Tôi đã đọc những câu như thế này trong các bệnh-viện:
    Quy trình rữa tay thường quy.
    Nó là cái gì vậy?
    Chĩ là ‘rữa tay đúng cách’ thôi mà.
    Lại có câu này:
    Tất cã vì bệnh nhân thân yêu.
    Đọc câu này, tôi cãm thấy tanh-tanh trong cổ họng.
    *
    Nói độn và viết độn đã chánh-thức đi vào trường học mấy chục năm nay.
    Từ GSTS cho đến giới bình-dân đều đã quen viết độn, nói đôn.
    Có thễ loại bõ được không?
    Khó lắm, vì nó đã trỡ thành thói quen thường ngày của mọi người.
    Nhưng cũng có cách, dù rất ít hy-vọng.
    *
    Cách loại bõ nói độn, viết độn là tập làm thơ Đường Luật.
    Luật của thể thơ này bó-buộc rất khắt-khe.
    Thâm-chí, trong bài thất-ngôn có 56 chử và bài ngủ-ngôn có 40 chử, nếu có hai chử giống nhau thì bị xem là kém cõi.
    Thơ Đường Luật là sát-tinh của lối nói đôn, viết đôn.
    *
    Thơ Đường-luật.

    Thơ Đường-luật là một trò chơi ghép chử rất thú-vị trong văn-chương, nó thách-thức sự nhanh trí, sự sáng-tạo và sự hiễu biết rộng về từ-ngử. Nó khó chơi hơn ô số và ô chử. Nó giúp người làm thơ nắm được quy-luật của vần-điệu và thanh-điệu. Thơ vốn là nhạc, do vậy vần và thanh rất quan-trọng đối với nhà thơ. Ai nắm vững luật thơ Đường thì việc làm thơ sẽ dễ-dàng và không bị rớt vần và rớt thanh. Nó là một trò chơi của trí-tuệ rất thanh-nhả. Giống như thơ Lục-bát, vốn dễ làm nhưng khó hay, những người thông-minh học thuộc luật thơ Đường rất nhanh, nhưng đễ làm được bài thơ Đường cho hay thì phãi cần đến năng-khiếu và cãm-xúc thơ chân-thật. Hãy xem đây là môn giãi-trí tao- nhã.

    *

    Đường-luật có hai lối thơ:

    Tám câu (bát-cú) và bốn câu (tứ-tuyệt).Câu thơ (cú) thì có thất-ngôn và ngủ-ngôn.

    Lối tám câu là lối chính, thông-dụng nhất. Vậy ta hãy xem xét lối tám câu trước.

    Một bài thơ Đường có 6 điều-luật căn-bản:

    Vần 2) Đối 3) Thanh 4) Niêm 5) Bất-luận 6) Bố-cục.

    a-Luật vần:

    Vần:

    Là thanh-âm của một chử, chĩ lấy từ nguyên-âm cho đến cuối chử gọi là vần. Vần đặt ở cuối câu.

    Thí-dụ:

    Tạo-hóa gây chi cuộc hí-trường.

    Đến nay thấm-thoát mấy tinh-sương.

    Đây là vần ương.

    Chú-ý:

    Năm dấu không ãnh-hưỡng đến vần.

    Gieo vần:

    Thơ Đường-luật thường dùng vần bằng, ít khi dùng vần trắc.

    Suốt bài thơ Đường chĩ dùng một vần, gọi là độc-vận.

    Vần phãi gieo ở cuối câu các câu 1,2,4,6,8.

    Sai vần (Lạc-vận) và đặt gượng (Cưỡng-áp):

    Vần sai, không hiệp với nhau gọi là _lạc vận.

    Vần gieo gượng không được hiệp lắm gọi là _cưỡng-áp.

    b-Luật đối:

    Đặt hai câu thành một cặp, mà ý và chử trong hai câu ấy trái ngược nhau (Đối chọi) hoặc đồng-thuận cùng nhau (Đối cân).

    Có ba điều phãi đối trong một cặp câu thơ đối:

    Đối ý, đối chử và đối thanh.

    Đối ý:

    Đặt ý-tưỡng khác nhau hoặc thuận nhau, trong hai câu thơ đối nhau.

    Đối chử:

    Các chử đối nhau trong hai câu thơ phãi hiệp nhau về từ-loại:

    Động-từ đối động-từ, danh-từ đối danh-từ, tính-từ đối tình-từ…vv

    Đối thanh:

    Các thanh bằng và trắc phãi đối với nhau: Bằng đối trắc, trắc đối bằng.

    *

    Những câu phãi đối trong bài thơ:

    Câu 3 đối câu 4, câu 5 đối câu 6. Câu 1,2 và 7,8 không đối.

    *

    Đối can:

    Con ruồi đậu mâm xôi đậu.

    Con kiến bò đỉa thịt bò.

    Đối chọi:

    Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa.

    Kiếm bạc An Giang khiếp quỷ thần.

    &

    Nước trong leo-lẻo, cá nuốt cá.

    Trời nắng chang-chang, người trói người.

    c-Luật thanh:

    Trong bài thơ Đường-luật những thanh trầm, bỗng được đặt cố-định ở mỗi câu.

    Riêng chử thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kễ ( Nhất tam ngủ, bất-luận)

    Bảng bằng-trắc thất-ngôn bát-cú:

    Luật-bằng, vần-bằng Luật-trắc, vần-bằng. Luật-trắc, vần-trắc.

    1: b b t t t b b (v) 1: t t b b t t b (v) 1: t t b b b t t (v)

    2: t t b b t t b (v) 2: b b t t t b b (v) 2: b b t t b b t (v)

    3: t t b b b t t 3: b b t t b b t 3: b b t t t b b

    4:b b t t t b b (v) 4: t t b b t t b (v) 4: t t b b b t t (v)

    5: b b t t b b t 5: t t b b b t t 5: t t b b t t b

    6: t t b b t t b (v) 6: b b t t t b b (v) 6: b b t t b b t (V)

    7:t t b b b t t 7: b b t t b b t 7: b b t t t b b

    8: b b t t t b b (v) 8: t t b b t t b (v) 8: t t b b b t t (v)

    (Chử thứ hai có thanh bằng, (Chử thứ hai có thanh trắc, (Chử thứ hai có thanh trắc,

    chử thứ bảy có thanh bằng). Chử thứ bảy có thanh bằng). Chử thứ bảy có thanh trắc).

    Lưu-ý: Luật-thanh lấy câu một làm chuẩn.

    Chử (v) là vần.

    *

    (Bài mẩu Luật bằng, vần bằng).

    Chiều hôm nhớ nhà.

    Trời chiều bãng-lãng bóng hoàng-hôn.

    Tiếng ốc xa đưa, tiếng mõ dồn.

    Gác mái, ngư-ông về viển-phố.

    Gõ sừng, mục-tử lại cô-thôn.

    Ngàn lau gió cuốn chim bay mõi.

    Dặm liểu sương sa khách bước dồn.

    Kẻ chốn chương-đài, người lử-thứ.

    Lấy ai mà kễ chuyện hàn-ôn.

    Bà Huyện Thanh Quan.

    *

    (Bài mẩu Luật trắc, vần bằng.)

    Thăng Long thành hoài-cổ.

    Tạo-hóa gây chi cuộc hí-trường.

    Đến nay thấm-thoát mấy tinh-sương.

    Lối xưa, xe ngựa hốn thu thảo.

    Nền củ, lâu-đài bóng tịch-dương.

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế-nguyệt.

    Nước còn cau mặt với tang-thương.

    Ngàn năm gương củ soi kim-cổ.

    Cảnh đấy, người đây luống đoạn-trường.

    Bà Huyện Thanh Quan

    (Thất-ngôn bát-cú, phần nhiều làm theo thể Luật-trắc vần bằng, kế đến là Luật-bằng vần bằng.

    Thể Luật-trắc vần trắc rất hiếm.)

    *

    Nhận xét:

    Mổi câu thơ chĩ có 4 chử phãi theo Luật-bằng-trắc.

    Đó là chử thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bảy.

    Những chử (v) là chĩ vần phãi gieo ở câu đó.

    Trầm và bỗng:

    Dấu sắc, dấu hỏi và dấu ngã là thanh bỗng (Trắc).

    Dấu huyền và không dấu là thanh trầm (Bằng).

    Dấu nặng có thể dùng cho thanh trầm hoặc thanh bỗng.

    d- Luật niêm:

    Niêm là dính với nhau.

    Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Nếu không đúng như vậy thì gọi là thất niêm.

    Chử thứ hai của câu hai, niêm với chử thứ hai của câu ba. Bốn niêm với năm. Sáu niêm với bảy. một niêm với tám.

    e- Luật bất-luận:

    Nếu theo đúng bảng luật thanh-điệu thì rất khó.

    Vì vậy, trong câu thơ có bảy chử thì chĩ bó buộc các chử hai, bốn, sáu,bảy.

    Ba chử còn lại, một, ba, năm thi-nhân được tự-do. Đó gọi là nhất, tam, ngủ bất-luận. Một, ba, năm không kễ.

    Ở ngủ-ngôn-thể, chử thứ nhất và thứ ba không kễ. Nhất, tam bất-luận.

    f- Luật bố-cục:

    Bài thơ bát-cú là một bức tranh. Trong cái khung nhất-định chĩ có 56 chử, thi-nhân phãi vẽ một bức tranh hoàn-chỉnh về cái chủ-đề mà mình nêu ra.

    Bài thơ được chia ra làm bốn phần:

    Đề, thực, luận, kết.

    Đề thì có phá-đề và thừa-đề.

    Phá-đề, là câu một, là câu mỡ bài. Câu này nói tổng-quát ý chính của bài.

    Thừa-đề, là câu hai, giúp sức cho câu một đễ giãi-thích và làm rõ đề bài.

    Thực, là câu ba và bốn.

    Hai câu này dùng đễ nói ý chính của bài thơ. Thơ tã cảnh thì chọn những cảnh-sắc xinh đẹp nhất mà mô-tã ra. Nếu là thơ tã tình, thì đem những tình-tự và cãm-xúc đễ giãi bày. Thơ vịnh-sử thì kễ ra công-trạng, đức-hạnh, của người mình muốn vịnh.

    Luận, là câu năm và sáu.

    Luận là bàn-bạc. Như tã cảnh thì cảnh ấy xinh đẹp thế nào, cãm-xúc người ta thế nào;

    vịnh-sử thì hoặc khen hoặc chê, hoặc so-sánh người ấy, việc ấy với người khác, việc khác.

    Kết, là hai câu bảy và tám.

    Gom hết ý-nghỉa cả bài và ý-kiến của mình mà thắt lại cho chặt-chẽ và rắn-rỏi.

    Bốn câu.(Tứ-tuyệt)

    Tứ-tuyệt, là ngắt lấy bốn câu trong bài bát-cú, đễ làm thành bài tứ-tuyệt.

    Có năm cách ngắt:

    1-Ngắt bốn câu trên, làm thành bài thơ ba vần, câu 3 và 4 đối nhau:

    Dệt vải.

    Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương.

    Vậy phãi lên ngôi giữ mối giường.

    Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt.

    Gót vàng giậm đạp máy âm dương.

    Lê Thánh Tôn

    2-Ngắt bốn câu dưới, làm thành bài thơ hai vần, câu 1 và 2 đối nhau:

    Đề chùa Vô Vi.

    Vắt-vẻo sườn non Trạo.

    Lơ-thơ mấy ngọn chùa.

    Hõi ai là chủ đó.

    Có bán tớ xin mua.

    Vô Danh

    ( Bài này, câu 1 và 2 vần và đối không chỉnh.)

    3-Ngắt bốn câu giửa, làm thành bài thơ hai vần, cả 4 câu đối nhau:

    Khóm gừng tỏi.

    Lởm-chởm gừng vài khóm.

    Lơ-thơ tỏi mấy hàng.

    Vẻ chi là cảnh mọn.

    Mà cũng đến tang-thương.

    Ôn Như Hầu

    (Bài này sai vần, chĩ có câu 1 và 2 là đối chỉnh.)

    4-Ngắt hai câu đầu và hai câu cuối, làm thành bài thơ ba vần, cả 4 câu không đối:

    Chừa rượu.

    Những lúc say-sưa cũng muốn chừa.

    Muốn chừa, nhưng tánh lại hay ưa.

    Hay ưa, nên nỗi không chừa được,

    Chừa được, nhưng mà chẵng muốn chừa.

    Nguyển Khuyến

    5-Ngắt hai câu 1 và 2; hai câu 5 và 6, làm thành bài thơ ba vần, hai câu cuối đối nhau:

    Con cóc.

    Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi.

    Chốn nghiêm thăm-thẳm một mình ngồi.

    Tép miệng năm ba con kiến gió.

    Nghiến răng chuyễn động bốn phương trời.

    Lê Thánh Tôn

    (Bài này, chử trời là dùng vần thông)

    Bảng bằng-trắc ngủ-ngôn bát-cú:

    Luật-bằng, vần bằng Luật-trắc, vần bằng. Luật-bằng, vần trắc.

    1) b b t t b (v) 1) t t t b b (v) 1) b b b t t (v)

    2) t t t b b (v) 2) b b t t b (v) 2) t t b b t (v)

    3) t b b t 3) b b b t t 3) t t t b b

    4) b b t t b (v) 4) t t t b b (v) 4) b b b t t (v)

    5) b b b t t 5) t t b b t 5) b b t t b

    6) t t t b b (v) 6) b b t t b (v) 6) t t b b t (v)

    7) t t b b t 7) b b b t t 7) t t b b t

    8) b b t t b (v) 8) t t t b b (v) 8) b b b t t (v)

    Trong nền học-vấn nặng về khoa-cữ của thời phong-kiến, thơ Đường là một trong những môn học chính. Đến thời thơ mới, Đường-luật bị lên án gắt-gao. Thật ra, nó chỉ là trò chơi giãi-trí của trí-tuệ, không đáng khen cũng không đáng chê. Những ai thích vận-động đầu óc thì nên tìm đến nó. Bài này không có ích gì cho lối thơ không vần-điệu và chẵng thanh-điệu.

    Phõng theo tài-liệu Dương Quảng Hàm.

    Chí phèo Nguyển-văn-Lợị

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.