Sinh viên cần chủ động để tạo thay đổi

3500.jpg

Tiến sĩ Phạm Đình Bá gửi về cho Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Trong thể thao, kinh doanh và khoa học, và trong cuộc sống, chúng ta đang cạnh tranh với các công dân trong khu vực. Ví dụ, sau khi thua năm trận chung kết đá banh nam SEA Games – 1995, 1999, 2003, 2005, 2009 – Việt Nam cuối cùng đã thắng 3-0 trước Indonesia vào ngày 10 tháng 12 năm 2019. Trong khi Việt Nam đã giành được sáu lần giải vàng trong đá banh nữ SEA Games, bao gồm cả năm nay với chiến thắng 1-0 trước Thái Lan vào ngày 8 tháng 12 năm 2019, đội đá banh nam đã chỉ giành được thắng lợi cuối cùng năm nay.

Lưu ý rằng Việt Nam Cộng Hòa đã giành được giải vàng tại SEA Games 1959 ở Bangkok. Cũng lưu ý rằng Việt Nam đã giành được giải vàng năm nay dưới sự lãnh đạo của huấn luyện viên Hàn Quốc Park Hang-seo.

Loạt bài viết này chia xẽ quan điểm của người viết về việc chúng ta làm sao để có những gì cần để cạnh tranh với công dân các nước ở châu Á và trên thế giới. Sự khôn ngoan thông thường cho rằng trong thể thao, doanh nghiệp và khoa học những người thành công nhất trên thế giới sở hữu những bằng cấp cao và quyền truy cập không giới hạn vào tài nguyên, sự giàu có và kết nối trong mạng xã hội. Nhưng giáo dục, sở hữu giàu có, tài nguyên và kết nối trong xã hội không đem lại kết quả mong muốn nếu cá nhân không có kỹ năng sử dụng các nguồn tài lực nầy.

Khoa tâm lý học và xã hội học đề xuất một bộ kỹ năng không mới nhưng không được hiểu phổ biến trong cấu trúc chính trị độc tài độc đảng của Việt Nam. Bởi vì chủ trương của độc tài độc đảng là ngu dân để duy trì quyền vơ vét cho lãnh đạo, gia đình và tùy tùng của chúng, giáo dục trong trường không giới thiệu bạn với các khái niệm liên hệ đến bộ kỹ năng nầy. Càng khó khăn hơn cho công dân nước ta là cái bình phong rất lớn mà độc tài độc đảng đã giàn dựng (thí dụ như “độc lập, tự do, hạnh phúc”) để che dấu cái mục đích chính của độc tài độc đảng là bóc lột toàn diện cho lãnh đạo, gia đình và tùy tùng của chúng, nền giáo dục hiện tại không chủ tâm để phát triển kỹ năng cạnh tranh của từng người trong chúng ta để có thể cạnh tranh thành công với công dân các nước khác.

Trước tiên chúng tôi phác thảo đào tạo cần thiết cho một tác nhân chủ động cho thay đổi (1).

  • Một tác nhân chủ động cho thay đổi phải có đủ tự tin để hoàn thành bất kỳ thử thách nào, bất kể thử thách đó là kỳ quặc hay điên rồ đến mức nào, trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn tác nhân đó có thể vượt qua thử thách để đạt kết quả mong muốn.
  • Một tác nhân chủ động cho thay đổi phải có khả năng tiếp cận bạn bè và đối thủ theo tư cách là một người bạn tâm tình – một người mà mọi người đều muốn tâm sự, người đáng tin cậy với những mối quan tâm cho người khác và thậm chí là người mà những người khác có thể tỏ bày ngay cả nỗi sợ hãi đen tối nhất của họ.
  • Một tác nhân chủ động cho thay đổi phải hiểu hành vi của người khác để định hình và phục vụ lợi ích chung của các nhóm thiên về thay đổi mà thường thì các nhóm nầy tiến hóa và thay đổi liên miên.
  • Một tác nhân chủ động cho thay đổi phải có khả năng thông cảm và chăm sóc thực sự cho các thành viên khác trong nhóm.
  • Một tác nhân chủ động để tạo thay đổi phải có khả năng phân tích lượng lớn thông tin để có manh mối về những gì có thể giúp hoặc làm tổn thương một nhiệm vụ và vượt qua các thử thách
  • Một tác nhân chủ động để tạo thay đổi phải thực hành kỷ luật ở cấp cao nhất. Các tác nhân chủ động cho thay đổi là lúc nào cũng hoạt động và học hỏi có phương pháp, tận tâm và kiên định. Họ làm việc chăm chỉ để duy trì tình trạng thể chất hàng đầu, lúc nào cũng có thể lực để chịu đựng các khó khăn vật chất và tinh thần trong mọi tình huống.
  • Một tác nhân chủ động cho thay đổi phải có khả năng để hoạt động một cách linh hoạt và lúc nào cũng lo toan về hợp tác với người khác. Một tác nhân chủ động cho thay đổi phải đối mặt về các tình huống mà mọi thứ có thể trở nên sai lầm mọi lúc, nhưng điều đó không thể cho phép một tác nhân chủ động cho thay đổi có thể để nhiệm vụ mình bị sụp đổ.
  • Nói tóm lại, một tác nhân chủ động để tạo thay đổi có thể tự kiểm để tự tin vào mình và tổ chức mình cống hiến rất nhiều, không bị giới hạn và ãnh hưởng của người khác hay đại đa số.

Các yêu cầu đào tạo được nêu ở trên có liên quan đến năng lực bản thân. Năng lực trong việc xử lý các vấn đề trong một môi trường hoạt động không chỉ đơn giản là cần biết phải làm gì. Mức làm việc có hiệu quả liên quan đến một năng lực khái quát, trong đó các kỹ năng nhận thức, xã hội và hành vi phải được tổ chức thành các khóa hành động tích hợp để phục vụ vô số mục đích. Thành công thường chỉ đạt được sau khi tạo và thử nghiệm các hình thức, hành vi và chiến lược khác nhau, đòi hỏi nhiều dấn thân và kinh nghiệm thử cách nầy rồi thay qua cách khác nếu cách trước không hiệu quả. Việc nầy đòi hỏi một nỗ lực kiên trì. Một tác nhân chủ động cho thay đổi không thể tự nghi ngờ chính mình. Người lúc nào cũng nghi ngờ chính mình thường nhanh chóng hủy bỏ quá trình tạo dựng cách thế này nếu những nỗ lực ban đầu của họ tỏ ra thiếu kết quả nhất thời.

Có một sự khác biệt rõ rệt giữa việc sở hữu các kỹ năng và có thể sử dụng các kỷ năng đó một cách tốt nhất trong các trường hợp khác nhau. Vì lý do này, những người khác nhau có kỹ năng tương tự, hoặc cùng một người trong những dịp khác nhau, có thể thực hiện kém, đầy đủ hoặc đạt được các kỷ lục ngoài trí tưởng tượng của người khác. Ví dụ, các nhà nghiên cứu đã chọn những đứa trẻ tự nhận mình có năng lực toán học cao hay thấp ở mỗi hai cấp độ của khả năng toán học. Những đứa trẻ sau đó được đưa ra những vấn đề khó giải quyết. Mặc dù khả năng toán học đóng góp vào hiệu suất, nhưng ở mỗi cấp độ tự nhận khả năng, trẻ em tự coi mình là người hiệu quả lại nhanh chóng loại bỏ các cách giải toán sai, giải nhiều bài toán hơn, chọn làm lại nhiều bài mà chúng không thể giải được lần đầu. Nhận thức về năng lực bản thân là một yếu tố quyết định đáng kể của hiệu suất hoạt động độc lập với các kỹ năng cơ bản. 

Tiếc thay, giáo dục từ độc tài độc đảng rất sợ tạo dựng cho cá nhân cách suy nghĩ độc lập. Độc tài độc đảng không muốn tạo dựng con người có khả năng hiệu suất hoạt động độc lập. Chúng – độc tài và độc đảng- rất sợ những tác nhân chủ động để tạo điều kiện cho thay đổi. Ví dụ, đảng Cộng Sản Trung Quốc tuần trước áp đặt những thay đổi về điều lệ của một trong những trường đại học hàng đầu của Trung Quốc, bao gồm bỏ cụm từ “tự do tư tưởng”, và đưa vào một “cam kết tuân” theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt và một hành động thách thức hiếm có của sinh viên (2).

Chức năng có năng lực để chủ động cho thay đổi đòi hỏi cả kỹ năng và niềm tin vào hiệu quả để sử dụng kỹ năng một cách hiệu quả (3). Hiệu quả hoạt động đòi hỏi phải liên tục ứng biến nhiều kỹ năng để quản lý các tình huống luôn thay đổi, hầu hết trong số đó có chứa các yếu tố mơ hồ, không thể đoán trước và thường gây nhiều căng thẳng cho người trong cuộc. Ngay cả các hoạt động thường ngày cũng hiếm khi được thực hiện theo cùng một cách chính xác. Sự bắt đầu và quy định trong các giao dịch với người khác và môi trường được điều chỉnh bởi các đánh giá về khả năng hoạt động của một cá nhân. Khả năng hoạt động được định nghĩa là những gì mọi người nghĩ rằng họ có thể làm trong các trường hợp cụ thể. Năng lực bản thân theo nhận thức cá nhân được định nghĩa là những gì cá nhân đánh giá năng lực của mình để tổ chức và thực hiện các cách hành động cần thiết để đạt được hiệu quả hoặc vượt qua các thử thách. Nó có thể có hay không có liên quan đến những kỹ năng mà người ta có. Nó là những đánh giá về những gì người ta có thể làm với bất kỳ kỹ năng nào mà người ta sở hữu.

Các đánh giá về hiệu quả cá nhân phải được phân biệt so với các kỳ vọng đáp ứng. Nhận thức về năng lực bản thân là một phán đoán về năng lực của một người để hoàn thành một mức độ hiệu suất nhất định trong một hành vi, trong khi đó, kết quả mong đợi là sự đánh giá về hậu quả có thể xảy ra đối với hành vi đó. Ví dụ, niềm tin rằng bạn có thể nhảy cao hai mét là một đánh giá hiệu quả. Sự công nhận từ người khác khi bạn nhảy qua 2 mét, tiếng vỗ tay, danh hiệu đạt được trong cuộc thi nhảyvà sự thỏa mãn cá nhân cho một thử thách như vậy tạo thành sự kỳ vọng đáp ứng.

Bên trên tôi chỉ lượt trình các điểm chính như là một cách giới thiệu cho loạt bài. Trong một số bài viết tiếp theo của loạt bài này, tôi sẽ chia xẽ với bạn những ví dụ về việc đào tạo một tác nhân chủ động cho thay đổi.

Tham khảo:

  1. Jason Hanson. Agent of influence. HarperCollins books, 2019.
  2. https://www.theguardian.com/world/2019/dec/18/china-cuts-freedom-of-thought-from-top-fudan-university-charter
  3. Self-efficacy (chapter 9). In “Social foundations of thought and action: A social cognitive theory” by Albert Bandura. Prentice Hall, 1986.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.