Liên minh xã hội dân sự trong các chế độ độc đoán

Một tổ chức của người lao động ở Singapore. Ảnh tư liệu
Một tổ chức của người lao động ở Singapore. Ảnh tư liệu

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Trong vài năm qua, một số liên minh xã hội dân sự có chủ ý đã xuất hiện ở thành phố Singapore. Chúng là kết quả ngoài ý muốn của một quá trình tự do hóa có kiểm soát, được chính phủ khởi xướng từ những năm 1990 để đáp ứng nhu cầu tham gia chính trị từ xã hội ngày càng tăng. Đặc biệt, internet đã góp phần tạo nên một xã hội dân sự quyết đoán, độc lập và có tổ chức tốt hơn, có thể được coi là một bước tiến quan trọng trong quá trình thay đổi chính trị trong chế độ độc đoán nầy (Ortmann 2015).

Mặc dù vai trò của xã hội dân sự đối với sự thay đổi chính trị từ lâu đã là trọng tâm của văn học nhằm so sánh các thể chế chính trị, nhưng người ta đã ít chú ý đến hiện tượng liên minh giữa các nhóm xã hội dân sự khác nhau trong bối cảnh thay đổi chính trị – một trong số ít trường hợp ngoại lệ là Weiss 2006. Các nghiên cứu về xã hội dân sự ở Đông Nam Á, đặc biệt dưới sự cai trị độc đoán ở các quốc gia như Singapore và Malaysia, đã khẳng định rằng hầu hết các lĩnh vực công cộng và dân sự có mối liên hệ chặt chẽ hơn với nhà nước. Các lĩnh vực nầy bao gồm nhiều nhóm khác nhau, thường nhỏ và phân mảnh cao. Ngoài ra, nhiều người trong số họ được nhà nước đồng ý cho hoạt động. Do đó, có thể phân biệt hai loại xã hội dân sự: 1) một loại thách thức hoặc vi phạm quyền của chế độ độc đoán, bao gồm các nhóm sẵn sàng thách thức chính phủ thông qua các phương tiện chính trị gây tranh cãi khác nhau, và 2) một loại hỗ trợ hoặc cộng sinh trong đó các nhóm cộng tác chặt chẽ với chính phủ và tránh xung đột (Thompson 2012).

Các học giả đưa ra sự khác biệt này cho rằng nhiều chế độ độc đoán ở Đông Nam Á gần với loại thứ hai (Hughes 2009). Do đó, nỗ lực thiết lập các liên minh mới giữa các nhóm độc lập bị phân mảnh trước đây cho thấy sự phát triển của một xã hội dân sự thách thức hơn do sự bất mãn ngày càng tăng đối với hiệu quả của các kênh truyền thông chính thức và sẵn sàng công khai chống lại chính phủ. Một mặt, liên minh lớn hơn cho thấy sự suy giảm quyền bá chủ của giới cầm quyền độc tài một thời, dẫn đến một xã hội đa nguyên hơn. Mặt khác, tinh thần hợp tác mới này cung cấp bằng chứng cho lập luận rằng các xã hội ngày càng phức tạp khiến các thể chế độc tài khó thực hiện các chính sách mà không có sự giúp đỡ của các nhóm xã hội. Do đó, các chế độ độc tài nầy bị thúc đẩy để cấp cho các nhóm phi chính phủ ‘không gian chính trị’ lớn hơn để theo đuổi lợi ích của xã hội. Trong không gian chính trị nầy là sự giằng co giữa một xã hội dân sự độc lập và nhà nước về vai trò lãnh đạo các lãnh vực lợi ích xã hội (Frolic 1997).

Xã hội dân sự đóng một vai trò quan trọng trong tất cả các giai đoạn thay đổi chính trị, được coi là sự phát triển theo hướng chính trị có tính tham gia, minh bạch và có trách nhiệm hơn nhưng không nhất thiết phải được hiểu là sự chuyển đổi sang một hệ thống chính trị mới hoặc dân chủ hóa (Alagappa 2004 ). Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội dân sự đến mức thậm chí không thể cố gắng tóm tắt chúng trong bối cảnh này. Vì lý do này, định nghĩa sau tập trung ngắn gọn về cách sử dụng khái niệm xã hội dân sự. Xã hội dân sự ở đây được hiểu theo bài khảo cứu của Alagappa (2004: 9) như sau.

‘xã hội dân sự là một lĩnh vực công cộng khác biệt về tổ chức, giao tiếp, diễn ngôn, phản ánh, và quản trị giữa các cá nhân và các nhóm thực hiện hành động tập thể để tác động đến nhà nước và chính sách nhà nước, nhưng không nhất thiết tìm cách cướp đoạt quyền lực nhà nước, và những hoạt động không được thúc đẩy bởi lợi nhuận ‘.

Nói cách khác, xã hội dân sự chủ yếu được tổ chức bởi các nhóm phi chính phủ theo đuổi các mối quan tâm dân sự và không cạnh tranh cho chức vụ chính trị. Lúc đầu, tự do hóa một số lĩnh vực dẫn đến sự xuất hiện của xã hội dân sự, và sau đó áp lực từ xã hội dân sự có thể dẫn đến không gian chính trị lớn hơn và sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của các chủ thể xã hội. Do đó, các nhóm xã hội dân sự đóng một vai trò quan trọng trong thay đổi chính trị, cuối cùng có thể dẫn đến thay đổi chế độ.

Do hậu quả của quá trình tự do hóa, chính phủ đang mất khả năng kiềm chế cái mà Meredith Weiss (2006) đã gọi là “nguồn vốn liên minh”, đó là sự tin tưởng lẫn nhau tồn tại giữa các nhóm khác nhau để hình thành các liên minh lớn hơn. Trong những trường hợp bình thường, một chế độ không có chủ ý sẽ cố gắng ngăn chặn sự xuất hiện của các liên minh kiểu nầy, nhưng sự phát triển kinh tế và sự phức tạp ngày càng tăng của xã hội khiến cho việc điều chỉnh ngày càng khó khăn của toàn xã hội bởi một chế độ độc tài.

Weiss lập luận rằng loại hiểu biết chung và cấu kết liên minh này cần một thời gian dài và tương tác thường xuyên trước khi các nhóm khác nhau sẽ bắt đầu gắn kết với nhau. Tuy nhiên, một khi các nhóm xã hội dân sự có khả năng thành lập liên minh và nhận thấy cơ hội thay đổi chính trị, họ sẽ trở nên hiệu quả hơn trong chiến dịch của mình vì để đạt được cải cách trong một chế độ không tôn trọng các quyền tự do cần đến một sự thống nhất lớn hơn giữa các nhà bất đồng chính kiến. Sự sẵn sàng đoàn kết vì một nguyên nhân duy nhất biểu thị một xu hướng độc lập hơn giữa các nhà hoạt động và nhà nước. Do đó, các liên minh giữa các nhóm xã hội dân sự khác nhau nảy sinh khi có sự phản đối mạnh mẽ và phối hợp giữa số lượng lớn nhất các nhóm có thể chống lại một luật đặc biệt nổi bật hoặc các vấn đề khác (Scott 2010). Nó là sự phản ánh của sự gắn kết và đồng thuận lớn hơn giữa các nhóm đã từng bị phân mảnh.

Để xã hội dân sự có hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu của mình, nhiều người đã lập luận rằng độc lập chính trị là rất quan trọng. Carothers (1999: 26), ví dụ, đề xuất rằng trong các chế độ độc tài, ‘một yếu tố quan trọng trong sự trung thực chính trị của các nhóm trong xã hội dân sự là hoàn toàn độc lập, tài chính và mặt khác, từ chính phủ.’ Sự độc lập thực sự có thể khó đạt được vì nhiều nhóm để thiết lập một mối quan hệ làm việc với chính phủ đã phải khoang nhượng vai trò độc lập của xã hội dân sự để tránh bị đàn áp hoặc để khỏi bị loại ra bên lề. Tuy nhiên, trong nhiều chế độ độc tài, có những cảnh giới hạn chế trong đó một số hình thức hoạt động chính trị độc lập được chấp nhận. Chính không gian hẹp này có thể được coi là gốc rễ của liên minh xã hội dân sự trong một chế độ độc tài. Nếu các nhóm này liên minh chống lại một số chính sách của chính phủ, nó thể hiện khả năng của họ để đạt được sự độc lập lớn hơn từ nhà nước và phát triển theo hướng xã hội dân sự quyết đoán hơn.

Các liên minh xã hội dân sự đôi khi thậm chí còn gây áp lực cho các chế độ độc tài để tiến tới nền dân chủ lớn hơn. Ví dụ, ở Hàn Quốc, Phong trào Liên Minh vì Dân chủ, một liên minh lớn của các nhóm xã hội dân sự khác nhau, được thành lập vào năm 1986 để gây áp lực lên chế độ độc tài để giới thiệu thêm dân chủ (Kim 2000). Mặc dù Liên Minh nầy không đứng vững được lâu, hiện tượng thành hình Liên Minh nầy vẫn chứng tỏ sự đồng thuận ngày càng tăng giữa các nhóm khác nhau rằng cần phải thay đổi chính trị. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sức mạnh của các liên minh giữa các nhóm dân sự đã cải thiện cơ hội chuyển đổi thành công sang nền dân chủ tự do (Shin và T Jerusalem 2007). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sự xuất hiện của liên minh xã hội dân sự tự động dẫn đến nền dân chủ lớn hơn. Các nhà lãnh đạo độc đoán có thể sử dụng khi thì hợp tác và khi thì đàn áp để phân chia phong trào và do đó hạn chế ảnh hưởng của các liên minh này (Weiss 2006: 48).

Mặc dù không nhất thiết phải có mối liên hệ giữa sự gia tăng của liên minh xã hội dân sự và dân chủ hóa, sự tồn tại của liên minh vẫn chỉ ra rằng sự thay đổi chính trị quan trọng đã xảy ra. Sự sẵn sàng hơn để thách thức nhà nước thể hiện sự đồng thuận xã hội ngày càng tăng và một xã hội dân sự trưởng thành không còn có thể dễ dàng bị đàn áp trong im lặng. Sự hiện hữu và hoạt động của các liên minh là một sự phản ánh của suy giảm đối với quyền lực nhà nước đối với xã hội khi các diễn viên mới đang cố gắng lấp đầy không gian chính trị mà từ trước vẫn là không gian bá quyền bởi một nhà nước độc tài.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá gửi về cho Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam. 

Tham khảo:
Stephan Ortmann (2015). Political Change and Civil Society Coalitions in Singapore. Government and Opposition, Vol. 50, No. 1, pp. 119–139.
Weiss, M.L. (2006), Protest and Possibilities: Civil Society and Coalitions for Political Change in Malaysia (Stanford: Stanford University Press).
Thompson, M.R. (2012), Civil Society and Democracy: Towards a Taxonomy in Asia and Beyond, SEARC Working Paper 123 (City University of Hong Kong).
Hughes, C. (2009), ‘Civil Society in Southeast Asia’, in M. Beeson (ed.), Contemporary Southeast Asia, 2nd edn (Basingstoke and New York: Palgrave Macmillan): 125–42.
Frolic, B.M. (1997), ‘State-led Civil Society’, in T. Brook and B.M. Frolic (eds), Civil Society in China (Armonk, NY: M.E. Sharpe): 46–67.
Alagappa, M. (2004), ‘Introduction’, in M. Alagappa (ed.), Civil Society and Political Change in Asia: Expanding and Contracting Democratic Space (Stanford: Stanford University Press): 25–57.
Scott, I. (2010), The Public Sector in Hong Kong (Hong Kong: Hong Kong University Press).
Carothers, T. (1999), ‘Civil Society’, Foreign Policy, 117: 18–29.
Kim, S. (2000), The Politics of Democratization in Korea: The Role of Civil Society (Pittsburgh: University of Pittsburgh Press).
Shin, D.C. and Tusalem, R.F. (2007), ‘The Cultural and Institutional Dynamics of Global Democratization: A Synthesis of Mass Experience and Congruence Theory’, Taiwan Journal of Democracy, 3(1): 1–28.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.