Tự do học thuật, chức năng của đại học và trách nhiệm của giáo sư

Lê Tín- tổng biên tập và các bạn

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Tự do học thuật có thể được định nghĩa là quyền của các học giả được đánh giá các ý tưởng của họ theo mức độ những ý tưởng đó được đánh giá trong tranh luận, thay vì theo vị trí cá nhân của họ, bất chấp các yếu tố khác như giới tính, chức quyền và các liên kết không liên hệ đến các ý tưởng đang được tranh luận (1). Các tổ chức giáo dục đại học được điều hành vì lợi ích chung.

Các đại học không làm việc để tăng thêm sự quan tâm của cá nhân giáo sư, sinh viên, trường đại học hoặc các tổ chức liên hệ. Lợi ích chung phụ thuộc vào việc tìm kiếm sự thật bằng bất cứ giá nào và giải trình kiến thức tìm được một cách sâu rộng và miễn phí. Tự do học thuật là điều cần thiết cho những mục đích này và áp dụng cho cả giảng dạy và nghiên cứu. Tự do trong nghiên cứu là nền tảng cho sự tiến bộ của sự thật. Tự do học thuật trong khía cạnh giảng dạy là nền tảng cho việc bảo vệ các quyền của giáo sư trong giảng dạy và các quyền của sinh viên đối với tự do trong học tập.

Tự do học thuật là quyền của các giáo sư trong tự do nghiên cứu, tự do xuất bản và tự do giảng dạy về các chủ đề lĩnh vực của họ. Tự do học thuật là rất quan trọng đối với năng lực của các tổ chức giáo dục đại học để khám phá các lĩnh vực mới và đưa ra những diễn giải đầy thách thức về hiện tượng lịch sử, xã hội và chính trị (1). Bởi vì các quyền tự do học thuật cá nhân và thể chế không phải là tuyệt đối, nhưng theo ngữ cảnh, và sinh viên và giáo sư có các quyền và nghĩa vụ bổ sung, có rất nhiều cách giải thích pháp lý liên quan đến bản chất và giới hạn của tự do học thuật. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ công nhận quyền tự do học tập ở thể chế cá nhân và thể chế trường đại học: Đây là công việc của một trường đại học nhằm cung cấp bầu không khí có lợi nhất cho đầu cơ, thử nghiệm và sáng tạo. Đó là một bầu không khí trong đó chiếm ưu thế ‘bốn quyền tự do thiết yếu’ của một trường đại học – để tự xác định dựa trên cơ sở học thuật ai có thể dạy, những gì có thể được dạy, cách dạy và ai có thể được nhận vào học.

Chức năng của trường đại học là tìm kiếm và truyền tải kiến thức và đào tạo sinh viên trong các quy trình theo đó sự thật sẽ được biết đến (2). Quy trình nầy không nhất thiết để chuyển đổi, hoặc thực hiện chuyển đổi; quy trình nầy chỉ để tìm kiếm và chuyển tải sự thật. Quy trình nầy phải có tính khoa hoc, xa rời với các cách làm thiên vị và các nghĩa vụ mang cảm tính. Trong việc thực hiện chức năng này của một trường đại học, khi cần thiết để xem xét các phong trào chính trị, xã hội hoặc tôn giáo, các chủ đề nầy sẽ bị truy cập, mổ xẻ và kiểm tra – các chủ đề nầy không được dạy theo giáo điều, và các kết luận liên hệ không nương theo xu hướng, mà phải theo logic của sự thật.

Trường đại học cam kết duy trì và bảo tồn các nguyên tắc tự do học thuật (2). Những nguyên tắc này phản ánh sứ mệnh cơ bản của trường đại học, đó là khám phá kiến thức và phổ biến nó cho sinh viên và xã hội. Các nguyên tắc tự do học thuật bảo vệ tự do tìm hiểu và nghiên cứu, tự do giảng dạy, và tự do ngôn luận và xuất bản. Những quyền tự do này là nền tảng để đại học góp phần vào việc nâng cao kiến thức và vào việc giảng viên truyền tải kiến thức một cách hiệu quả đến sinh viên và đến công chúng. Trường cũng tìm cách thúc đẩy sinh viên để phát triển một sự độc lập trưởng thành trong suy nghĩ và hành động. Mục đích này không thể đạt được trừ khi sinh viên và giảng viên được tự do trong lớp học để thể hiện phạm vi quan điểm rộng nhất theo tiêu chuẩn của nghiên cứu học thuật và đạo đức nghề nghiệp.

Giáo sư có nghĩa vụ phải hoàn thành trách nhiệm của mình trong lớp học, trong trường đại học và trong xã hội (1). Trách nhiệm nghề nghiệp của các học giả và giáo sư là để truyền đạt cho sinh viên và đồng nghiệp sự hiểu biết rõ ràng nhất của họ, dựa trên nghiên cứu tốt nhất có sẵn, cả của họ và những nghiên cứu viên khác. Làm ít hơn các trách nhiệm nầy là làm bất đồng với nghề nghiệp. Điều nầy cũng áp dụng khi các áp lực chính trị có thể khiến các giáo sư tránh đặt những câu hỏi cần thiết để nâng cao kiến thức, và thay vào đó để đưa ra kết luận an toàn, thay vì những kết luận khoa học và chính xác.

Giáo sư được coi là học giả, người tìm kiếm và người truyền đạt kiến thức, với sự tò mò vô độ về những gì chúng ta không biết và thái độ phê phán và đặt câu hỏi triền miên về những gì chúng ta biết (3). Giới học thuật là những chuyên gia về thông tin và cách sử dụng thông tin. Sinh viên của họ thường là những người trẻ tuổi ấn tượng, những người đang tìm kiếm sự nghiệp và mô hình của các loại nghề nghiệp. Sinh viên đại học cũng thường vẫn đang thử nghiệm một hệ thống các giá trị, niềm tin và tiêu chuẩn đạo đức. Các học giả được coi là tác nhân tự trị và trưởng thành, có tầm nhìn rộng và cách tiếp cận phân tích về đạo đức. Nhiều học giả trở thành chức năng cố vấn có ảnh hưởng trong việc giúp sinh viên đưa ra lựa chọn quan trọng trong cuộc sống.

Trong vai trò này, giáo sư được coi là có trình độ học vấn cao, chu đáo, phân tích, khoan dung và tôn trọng sự đa dạng (3). Họ là những nhà sản xuất kiến thức độc lập quyết liệt và là người đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự thật. Họ là những người chống lại thể chế quản lý khi đạo đức nghề nghiệp và tự do học thuật bị đe dọa. Họ là quán quân cho quyền lợi của sinh viên để tạo môi trường thuận lợi cho tự do học tập, thảo luận và nghiên cứu, bất chấp mọi giới hạn.

Tài liệu
1. A Project of the Taskforce on Middle East Anthropology. Academic Freedom and Professional Responsibility after 9/11: A Handbook for Scholars and Teachers. https://s3.amazonaws.com/academia.edu.documents/31198763/Handbook-1.pdf?AWSAccessKeyId=AKIAIWOWYYGZ2Y53UL3A&Expires=1556037110&Signature=qDj6PMfgPQJ9eOmawFXw7cvqi58%3D&response-content-disposition=inline%3B%20filename%3DAcademic_freedom_and_professional_respon.pdf
2. Richard C. Atkinson. Academic Freedom and the Research University. Proceedings of the American Philosophical Society, Vol. 148, No. 2 (Jun., 2004), pp.195-204.
3. Bruhn, John G., et al. “Moral Positions and Academic Conduct: Parameters of Tolerance for Ethics Failure.” The Journal of Higher Education, vol. 73, no. 4, 2002, pp. 461–493. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/1558423.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s