Con đường tìm về Gốc Tổ của Triết gia Lương Kim Định

Luong-Kim-Dinh-2
Giáo sư Lương Kim Định- trường đại học Văn Khoa Sài Gòn

Khi tìm về Gốc Tổ, Triết gia Kim Định không chỉ tìm hiểu ý nghĩa của chữ Tổ, mà còn tìm đến ngọn nguồn của Tinh thần bất khuất của Tổ Tiên xưa, tinh thần này đã được trải nghiệm suốt gần 5 ngàn năm Lịch sử của giống nòi Tiên Rồng.

I.- Nguồn gốc của chữ Tổ

Triết gia Kim Định đã để 50 năm cuộc đời mình để khai quật lên, đây là một hành trình dài lâu qua nhiều chặng đường khác nhau với những phương cách khác nhau.

Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn việc bàn về chữ Tổ. Theo tinh thần Việt Nho thì chữ Tổ được tìm thấy nơi tên của Huyền Tổ Hữu Sào. Hữu Sào là “ có Tổ “, Tổ của Chim được làm ở trên cây , nên Hữu Sào có liên hệ tới Chím Tiên, Hữu Sào cũng là nguồn gốc của ý tưởng Tam tài: trên Tổ Chim là Trời, dưới Tổ là Đất, ở giữa là Tổ, do đó mà Dân Việt mới có tên Tổ Tiên.

Tuy Hữu Sào đươc tìm thấy trong Cổ sử Tàu, nhưng gốc Văn hoá của Tàu khởi từ Vật Tổ chim Cú ( thời Hiên Viên Hoàng đế ) tới Bạch Mã ( đời nhà Thương ), sau chót mới tới Rồng ( mượn của Việt tộc vào đời nhà Hán ), vì bản chất của Văn hoá Tàu là trong Bạo lực thuộc Văn hoá Du mục, nên chỉ chọn Rồng, mà không chọn Tiên có tính chất khoan nhu không hợp khẩu vị của Du mục.

Những nhân vật Văn hoá như Phục Hy ( có tên là Thanh tinh < Rồng xanh > sáng tạo ra Dịch với nét đứt và nét liền ) Nữ Oa ( Chim Tinh vệ, đội đá và trời ) , Thần Nông ( sáng tạo ra Nông nghiệp ) Toại nhân ( tạo ra Lửa để nấu nướng và đốt rừng làm rẫy ) Hữu sào ( làm nhà sàn như Chim làm Tổ trên cây để tránh thú dữ ) Nghiêu, Thuấn, ( đều làm nghề nông , chứ không là dân Du mục như Thủy Tổ Hiên Viên của Tàu ).

Những nhân vật trên tuy có trong lịch sử Tàu, nhưng là những nhân vật Văn hoá thuộc Nông nghiệp, chứ không phải là những nhân vật Lịch sử thuộc Văn hóa Du mục của Tàu.

Những nhân vật Huyền sử trên của Việt đã được các nhà làm Sử đem vào sau làm nhân vật Lịch sử của Tàu, những nhân vật càng xa xưa thì lại được đem vào sau hết, như Bàn Cổ mới được đem vào Sử Tàu vào thời nhà Hán.

II.- Ý nghĩa của chữ Tổ

Chữ Tổ: gồm = chữ kỳ: + và chữ Thả:

1.- Chữ Kỳ : :: 礻(dạng viết tháo )

Chúng ta nên nhớ dòng họ Âu Cơ có chữ Dấu Chân Chim ( Điểu Tích tự ), nay đã mất tích, dòng họ Lạc Long có chữ Nòng Nọc ( chữ con Quăng ) hay chữ Khoa đẩu, tương truyền rằng người ta tìm thấy sách viết theo chữ Khoa đẩu trong vách của nhà Khổng Tử .

Theo T. G, Kim Đinh thí chữ Kỳ có gốc từ chữ Khoa đẩu , Kỳ có nghĩa là cao qúy, linh thiêng, những chữ như chữ Thần ( Thần linh ) , chữ Thiền ( Mặc niệm, Tĩnh lặng ) , chữ Lễ ( Cung kính ) đều có bộ Kỳ ở bên tả.

Quan trọng hơn là chữ Kỳ có 2 nét Ngang ở Trên và 3 nét Dọc ở Dưới.

Theo tinh thần Nhất nguyên Lưỡng cực hay Dọc / Ngang lưỡng nhất thì: 2 + 3 = 5.

Dọc / Ngang, số Lẻ / số chẵn đều là nhưng cặp đối cực của Dịch

2.- Chữ Thả: ( II )

Trong các nghĩa của chữ Thả, theo Thiển ý thí chúng tôi chọn nghĩa: Thả là vừa thế này và thế kia, trong trường hợp chữ T thì chữ Thả có nghĩa là : vừa là số 2, số 3 và cả số 5.

III.- Ý nghĩa có các số: 2-3, 5 ( 2+3 = 5 )

( I )

Số 2 tượng trưng cho Thái cực ( Nhất nguyên lưỡng cực : Dual unit ). Thái cực là nguồn sinh sinh hoá của Dịch lý trong Vũ trụ.

Số 3 trong Kitô giáo là Tam Vị nhất Thể ( Một Chúa Ba Ngôi ) với Bác ái, Công bằng và Tha thứ , trong Việt Nho là Tam cương: Nhân, Trí , Bao dung ( Hùng-Dũng ), số 3 cũng tượng trưng cho con Người Nhân chủ, không Duy Tâm, không Duy Vật mà là Tâm / Vật hài hòa, nên có tinh thần tự Chủ, tự Lực, tự Cường, với Phật giáo là Từ bi Trí huệ và Hỷ xả.

Số 5= 2+3

Số 2 là số Âm, 3 là số Dương, nên 2 và 3 cũng tương trưng cho Hôn nhân, một trong những nguồn sinh sinh hoá hoá của Vũ trụ.

Số 5 ( I ) là Động lực sáng tạo ra Vũ trụ, là nguồn năng lượng biến hoá bất biến trong Vũ trụ, hay cũng là nguồn Tâm linh với Ba Luật lớn: Luật Biến dịch tức là Dịch lý, luật Giá Sắc hay Nhân qủa và Luật Loại tụ hay “ Tưồng nào theo Tập nấy “.

Ngoài ra 2 tương trưng cho trục Dọc ( Thời gian ) và trục Ngang ( Không gian ) , khi Dọc / Ngang giao thoa tạo nên Thập tự nhai ( ┼) làm nên khung Ngũ hành.

Khung Ngũ hành là Cơ cấu của Việt Nho, trong khung Ngũ hành các Tiểu Thái cực được phân cực từ Thái cực được sắp xếp đối xứng qua Tâm hành Thổ, tạo nên Tạo hóa lư hay Lò Cừ.

Bảng Nguyệt lệnh là bảng tóm tắt các Cơ cấu tạo nên Vũ trụ như các Cơ cấu : Thời gian, Không gian, Ngũ Thường, Ngũ Luân, và Lộ đồ Trị, bình, nên Ngũ hành tương trưng cho bộ máy Huyền vi của Vũ trụ, trong đó các Tiểu Thái cực tương tác với nhau ( Nho gọi là “ Tương thôi “ ) theo tinh thần Triết ý An vi để đạt trang thái Quân bình động mà Tiến hoá trong trạng thái ổn định.

Do đó mà bộ số 2-3, 5 gọi là Bộ số Huyền niệm ( Mythical numbers ) của nền Văn hoá Thái hòa Việt.

Nền Văn hoá có Cơ cấu và Nội dung Việt Nho với Tinh thần Triết lý An vi.

IV.- Kết luận

Tổ là Gốc của nền Văn hoá Việt, nn Văn hoá này có:

1.- Vũ trụ quan động với Dịch lý bất biến Âm / Dương hoà bắt ngun từ Vật biểu Tiên / Rồng, cặp đối cực này tương tác với nhau để đạt tới trạng thái Quân bình động, nghĩa là luôn hòa với nhau ở từng thời điểm, vừa Tiến bộ vừa được ổn định, nên mới đạt Thái hòa . Tỷ lệ Hòa là “ Tham Thiên lưỡng Địa ( Tàu ) hay Vài Ba ( Việt ), do hai cái nhìn Nội và Ngoại khởi khác nhau .

2.- Nhân sinh quan Nhân chủ với con Người tự Chủ, tự Lực, tự Cường.

3.- Tâm linh sử quan: Nguồn Sống và Nguồn Sáng ( Wave / Particle duality ) :

Nguồn Sống là Vật chất

Nguồn Sáng là Tinh thần với Nhân. Trí, Bao dung ( Hùng/ Dũng ) .

4.- Một Chủ Đạo Hòa để Đoàn kết toàn dân.

5.- Một Lộ đồ Tu, Tề, Trị, Bình để đem Công lý vào Xã hội hầu phục vụ mọi người .

Tóm lại khi tìm hiểu về chữ Tổ, chúng ta không những tìm biết được Tổ Tiên chúng ta đã sinh ra và sống ở nơi đâu, đã trải qua bao lâu < xem ( III ) ở dưới > và quan trọng hơn là Tinh thần của Tổ ra sao, tức là nền Văn hoá mà Tổ Tiên đã dựng nên Quốc gia trải qua Năm ngàn năm Văn hiến, Dân tộc chúng ta đã sống hiên ngang cạnh một nước khổng lồ vô cùng “ Tham tàn và Cường bạo “ luôn tìm cách nuốt chửng Việt Nam mà không thể làm nổi.

Đó là tinh thần Bất khuất của Dân tộc Việt Nam

Đó là tinh thần Bất khuất của Dân tộc Việt Nam:

NHÂN / TRÍ, HÙNG / DŨNG. ( BAO DUNG )

Khi nhắc tới những giá trị Văn hóa xưa, chắc sẽ có nhiều Vị chê bai dè bỉu, cho đó là những giá trị xưa đã lỗi thời, không hợp với thời đại Văn minh ngày nay.

Thực ra , “ Linh tại ngã, bất linh tại ngã: Linh hay không Linh là do mỗi một chúng ta có thực sự sống và sinh hoạt đúng theo tinh thần đó hay không “, chứ cái miệng cứ bô bô Nhân Nghĩa mà cái Lòng mình thì Bất Nhân và cái Tay mình lại làm chuyện Bất công, vậy cái đáng chê trách là tại mình không hiểu rõ và không hành xữ đúng theo tinh thần đó, tuy không văn minh bằng hiện nay, nhưng Tồ Tiên ta xưa đã hành xử với nhau theo Tinh thần “ Nhân / Trí, Hùng / Dũng , nên mới có đủ Nội lực để chống với lũ Tham tàn Cường bạo Bắc phương, cũng như không bao giờ để bị mắc bẩy Bắc phương như hiện nay!.

Thực ra những giá trị trên của Dân tộc ta có khác nào những điều các tôn giáo phát biểu. Những giá trị trên của Việt Nho là phổ quát, có nguốn gốc từ nguồn Tâm linh là nguốn Tĩnh, bất động, nên là những giá trị đó bất biến không có hề cũ bao giờ theo Thời gian.

Ngày nay chúng ta đang cố gắng xây dựng Chế độ Dân chủ theo Tinh thần Nhân quyền, Tự do , tuy danh xưng có khác nhau nhưng xét kỹ thì nào có khác chi! Thực ra nhân quyền, tự do, dân chủ…là những hạn từ chỉ đủ để viết ba cột báo, trong khi nội dung thuyết Việt Nho rộng hơn nhiều và có sức thâu hóa cực kỳ mạnh mẽ.

Có lòng Nhân thì mới biết tôn trọng con Người và ăn ở công bằng với nhau, đó là Nhân quyền, lại có thêm Trí để biết phải trái, cùng với lòng Bao dung mới biết chấp nhận nhau, tôn trọng Tự do của nhau, nhờ đó mà mọi người sống hoà mà đoàn kết với nhau.

Một điều quan trọng khác những giá trị này là của Chung cả Dận tộc, chứ không riêng cho một Tôn giáo nào, Đảng phái cũng như Phe phái nào, nên không gây ra ngộ nhận.

Những ngộ nhận về Tôn giáo trước đây chắc chúng ta cũng chưa quên!

Nguyễn Việt Nhân- gửi đến Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam.

Sách Chiết tự chữ Hán- Tạ Quang Phát

Hiện nay, ở hầu hết các cơ sở dạy chữ Trung Quốc, hầu hết các giáo viên đều dạy theo lối thuộc lòng. Đối với những người lớn trên 20 tuổi, dạy chữ Hán mà không giải nghĩa cách cấu tạo chữ thì là một sự gượng ép.
Từ năm 1951, ông Tạ Quang Phát- một người làm sách có tâm đã giúp giải nghĩa các chữ Hán.

Ví dụ:

Chữ  AN= êm đềm. (宀 miên=nhà + 女 nữ = con gái: con gái ở trong nhà cha mẹ mới yên tâm).

安 閒 AN -NHÀN= bình-yên thong-thả

Với sách Chiết tự chữ Hán này, việc học chữ Hán chưa bao giờ dễ đến vậy. Ngoài ra, ngay cả khi bạn không chuyên ngành Hán-Nôm, để muốn hiểu rõ nghĩa các từ trong tiếng Việt có gốc Nho thì đây cũng là tài liệu đối chiếu tuyệt vời.

Vậy, để việc học nhớ được lâu, không cần nhớ mà vẫn nhớ, hãy mua sách này với giá chỉ 220 000 VNĐ.

WhatsApp Image 2019-05-17 at 13.34.56

Liên hệ mua sách.  
Chị Nguyễn Thị Phương

Phone: 08 38960897
Số tài khoản: 76010000706821
Chủ tài khoản: Nguyễn Thị Phương.
BIDV chi nhánh Vũng Tàu.

Chúng tôi sẽ gửi sách qua bưu điện đến nhà bạn!

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s