Sẵn sàng cho sự nghiệp sau tốt nghiệp

Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu
Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Nghiệp Đoàn sinh viên tường thuật là các ngành sư phạm không tuyển thí sinh nói ngọng, nói lắp (1). Nghiệp Đoàn cũng có bài về tiêu chí của trường Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh là sinh viên phải cao trên 1m50 (2). Nghiệp Đoàn gợi ý các điều kiện tuyển sinh nầy là “quái đản”.  

Trên thế giới, nhiều trường cao đẳng và đại học đang mở rộng để phục vụ nhiều sinh viên hơn, bao gồm cả những người có khuyết tật trí tuệ. Bài thực hành nầy chia sẻ cách thức một chương trình tại một trưởng cao đẳng ở Mỹ cung cấp giáo dục, đào tạo nghề với kết nối thành công với việc làm cho 80% sinh viên có khuyết tật trí tuệ sau tốt nghiệp. Các thực hành sáng tạo của chương trình này được mô tả trong 6 thành phần dưới đây.

  1. Xem xét sở thích và nghề nghiệp – Chương trình bắt đầu giúp sinh viên thiết lập môt mô hình để khám phá điểm mạnh của sinh viên và hướng dẫn sinh viên từng bước trong lúc học tại trường trong hai năm. Bước đầu là nhân viên của chương trình dành thời gian để tìm hiểu từng sinh viên dựa trên thế mạnh, sở thích, và nhu cầu chung của họ. Trong quá trình nầy, sinh viên dẫn đầu việc phát triển lộ trình học tập cá nhân để mọi người có thể tham khảo các điều chính mà sinh viên muốn. Sinh viên làm việc với nhân viên của chương trình để cùng nhau đạt được những mục tiêu này thông qua các quy trình lập kế hoạch tập trung vào mỗi cá nhân.
  2. Thực hành lập kế hoạch tập trung cá nhân để xác định nhu cầu hỗ trợ – Tiến trình nầy tập trung vào kế hoạch chuyển đổi từ trung học đến chương trình cao đẳng và sau đó diễn ra thường xuyên theo lịch trình được xác định trước. Một kế hoạch được thiết lập liên quan đến (a) khóa học mong muốn, (b) hỗ trợ truy cập trong các kinh nghiệm làm việc trước đây và (c) các mục tiêu cá nhân cần đạt được thông qua kinh nghiệm làm việc thực sự hoặc kinh nghiệm làm việc trong khuôn viên trường trong các năm tới. Sau khi các cuộc phỏng vấn ban đầu và lộ trình học tập đã được phát triển, nhân viên chương trình tiếp tục làm việc với sinh viên và gia đình để tạo ra một kế hoạch cá nhân cho việc tham gia đại học, bao gồm các mục tiêu cá nhân cụ thể dẫn đến thành tích lâu dài hơn.
  3. Tư vấn và lập kế hoạch khóa học đại học – Một lộ trình học tập được thiết lập và bao gồm năm lĩnh vực chủ đề khuyến khích sinh viên (a) kiểm tra xem họ là ai, (b) họ muốn trở thành ai trong tương lai, (c) lợi ích giải trí, (d) các kỹ năng mong muốn và (e) sở thích nghề nghiệp và công việc. Qua đây, sinh viên hình thành hai đến ba mục tiêu dài hạn về những gì họ hy vọng sẽ đạt được trước khi tốt nghiệp.
  4. Thiết lập thực tập và kinh nghiệm làm việc có trả lương – Chương trình có một điều phối viên phát triển nghề nghiệp cho sinh viên. Điều phối viên nầy tiếp cận các nhà tuyển dụng tiềm năng với ý tưởng kiếm được việc làm bán thời gian (thường là 10 giờ mỗi tuần phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp dài hạn của sinh viên). Các địa điễm làm việc ban đầu được chọn lựa dựa trên các mục tiêu và thế mạnh nghề nghiệp của sinh viên, cũng như những gì họ có thể làm được cho các ông chủ mướn họ để thực tập. Khi không thể đảm bảo tất cả các kinh nghiệm làm việc được trả lương, chương trình sẽ cố gắng sắp xếp tìm việc ở các địa điểm khác nhau trong khuôn viên trường. Trong trường hợp nầy, việc chọn việc làm vẫn liên quan chặt chẽ đến các mục tiêu nghề nghiệp của sinh viên để họ cũng có thể học các kỹ năng nghề cần thiết để đảm bảo vị trí được trả lương trong tương lai. Các nhà tuyển dụng tiềm năng đều được tiếp cận với mục tiêu là sinh viên cần một cơ hội để họ có được kinh nghiệm làm việc có giá trị và mở rộng chuẩn bị để họ có thể sẵn sàng cho sự nghiệp sau tốt nghiệp.
  5. Đánh giá và quan sát hiệu suất khi sinh viên đi làm – Dữ liệu để đánh giá và quan sát nầy được thực hiện và thu thập thông qua thẻ công việc. Các thẻ công việc này được sử dụng để sinh viên tự giám sát và ghi lại hiệu suất công việc tổng thể. Cách thu thập dữ liệu nầy cũng cung cấp cho sinh viên thông tin phản hồi liên tục về hiệu suất công việc của họ. Dữ liệu được thu thập trong khi làm việc. Thẻ công việc được thảo luận tại các cuộc họp hàng tháng. Khi sinh viên dần dần trở nên độc lập với hiệu suất công việc, vai trò của hỗ trợ từ chương trình có thể được chuyển dần qua cho đồng nghiệp hoặc người sử dụng lao động. Chương trình cũng phỏng vấn người tuyển dụng để thu thập phản hồi trực tiếp về việc làm của sinh viên.
  6. Kết nối trở lại với cộng đồng – Trong năm thứ hai (năm cuối), chương trình hoạt động để thu hẹp việc tìm kiếm một vị trí công việc lâu dài trong cộng đồng tương lai mà sinh viên chọn. Cần nhớ là khi bắt đầu học kỳ đầu tiên, chương trình đã cố gắng bắt đầu tạo dựng những liên kết để tìm việc, quan tâm đến hợp tác giữa sinh viên, gia đình, doanh nghiệp, và các nguồn tuyển dụng trong cộng đồng. Chương trình đặt cá nhân sinh viên là trung tâm trong tất cả các cố gắng nầy.

Chương trình nầy làm việc cần mẫn để sinh viên tìm được việc làm lâu dài và thành công trong cộng đồng. Điều này sẽ không chỉ cho phép sinh viên sống độc lập hơn mà còn khiến họ trở thành các thành viên hữu ích của xã hội.  Một xã hội nhân bản cần làm việc cần mẫn để không một công dân nào bị bỏ lại trong vận mệnh khó khăn của họ.

Đại học phải là ngọn hải đăng của nhân bản và đổi mới. Khi đại học kỳ thị và tước đoạt học sinh các cơ hội học tập vì các tiêu chí tùy tiện không có bảo chứng bằng khoa học ứng nghiệm, các nhà quản trị và các giáo sư ở các đại học nầy không hiểu gì về những giá trị và biểu tượng mà những tổ chức giáo dục cấp cao cần trân trọng.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá, đại học Toronto, Canada

Tài liệu:

  1. Trường đại học sư phạm không tuyển thí sinh nói ngọng là đúng hay sai? https://nghiepdoansinhvien.org/2019/03/14/truong-dai-hoc-su-pham-khong-tuyen-thi-sinh-noi-ngong-la-dung-hay-sai/
  2. Sinh viên Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh phải cao trên 1m50, điều kiện quái đản. https://nghiepdoansinhvien.org/2019/02/13/sinh-vien-su-pham-thanh-pho-ho-chi-minh-phai-cao-tren-1m50-dieu-kien-quai-dan/
  3. Kelly R. Kelley, Susan K. Buchanan. College to career ready: Innovative practices that lead to integrated employment. Journal of Vocational Rehabilitation 46 (2017) 327–332.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s