“Tiêu chuẩn Lao động Quốc tế” là gì?

Unions Network: Bài dưới đây được trích từ sổ tay “Giới thiệu tóm tắt về các Tiêu chuẩn Lao động Quốc tế”, do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) xuất bản ở Việt Nam vào năm 2005.

1. GIỚI THIỆU TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ (ILO)

Tổ chức Lao động quốc tế được thành lập năm 1919 và trở thành một cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc vào năm 1946. Hiện tại nó có 178 quốc gia thành viên . ILO có một cơ cấu rất đặc trung đó là cơ cấu “ ba bên” tập hợp đại diện của các chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động lại với nhau trên cơ sở bình đẳng để giải quyết các vấn đề liên quan tới chính sách lao động và xã hội. Các chính sách lớn của ILO được thông qua tại Hội nghị Lao động Quốc tế họp mỗi năm một lần và với sự có mặt của tất cả các thành viên. Hội nghị cũng thông qua các tiêu chuẩn lao động quốc tế mới và kế hoạch công tác và ngân sách của ILO.

Giữa hai kỳ họp Hội nghị, ILO được điều hành bởi Hội đồng Quản trị gồm 28 thành viên đại diện cho chính phủ , 14 thành viên đại diện cho người lao động và 14 thành viên đại diện cho người sử dụng lao động. Ban thư ký của ILO chính là Văn phòng Lao động Quốc tế, đóng trụ sở chính tại Giơ ne vơ, Thụy sĩ và có các văn phòng đại diện tại hơn 40 nước.

2. TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ LÀ GÌ?

Tiêu chuẩn lao động quốc tế là các văn bản pháp luật do các thành viên của ILO ( các chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động) soạn thảo và thông qua , quy định các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc. Các tiêu chuẩn này hoặc là các công ước, mang tính ràng buộc pháp lý của điều ước quốc tế mà các quốc gia thành viên có thể phê chuẩn , hoặc là các khuyến nghị làm nguyên tắc chỉ đạo không mang tính ràng buộc.

Trong nhiều trường hợp, công ước quy định các nguyên tắc cơ bản mà các quốc gia phê chuẩn phải thực hiện, còn khuyến nghị liên quan thì bổ sung cho công ước đó bằng các nguyên tắc chỉ đạo chi tiết về cách thức áp dụng công ước như thế nào. Khuyến nghị cũng có thể mang tính tự trị, nghĩa là không gắn với bất kỳ một công ước nào.

Các công ước và các khuyến nghị do các đại diện của các chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động soạn thảo và thông qua tại Hội nghị Lao động Quốc tế thường niên. Một khi công ước được thông qua, theo Điều lệ ILO, các quốc gia thành viên phải trình công ước đó cho nhà chức trách có thẩm quyền của mình ( thông thường đó là Quốc hội) để xem xét . Đối với trường hợp công ước, điều này ngụ ý xem xét để phê chuẩn. Nếu công ước được phê chuẩn thì thông thường công ước sẽ có hiệu lực đối với quốc gia đó sau 01 năm kể từ ngày phê chuẩn. Các quốc gia phê chuẩn công ước cam kết áp dụng công ước vào luật pháp và thực tiễn quốc gia và báo cáo về việc áp dụng theo định kỳ. ILO sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật , nếu cần thiết. Ngoài ra, các thủ tục phản kháng và khiếu kiện có thể được áp dụng để chống lại các nước có vi phạm công ước mà họ đã phê chuẩn.

2.1. Các Công ước cơ bản

Hội đồng Quản trị đã xác định 8 công ước “ cơ bản”, điều chỉnh các vấn đề được coi là các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc: tự do hiệp hội và thừa nhận thực sự quyền thương lượng tập thể; xoá bỏ tất cả mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; xoá bỏ thực sự lao động trẻ em; và xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Những nguyên tắc này cũng được đề cập đến trong Tuyên bố về các Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc ( năm 1998) của ILO ( xem Phần 3). Năm 1995 , ILO triển khai một chiến dịch để đạt được sự phê chuẩn toàn cầu đối với 8 công ước này. Hiện nay đã có 1.200 phê chuẩn đối với những công ước này, đạt khoảng 86% tổng số có thể phê chuẩn.

Tám công ước cơ bản là:

_ Công ước về Tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức, năm 1948 ( Số 87)
_ Công ước về Quyền tổ chức và Thương lượng tập thể, năm 1949 ( Số 98)
_ Công ước về Lao động cưỡng bức, năm 1930 ( Số 29)
_ Công ước về Xoá bỏ Lao động cưỡng bức ,năm 1957 ( Số 105)
_ Công ước về Tuổi tối thiểu , năm 1973 ( Số 138)
_ Công ước về Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, năm 1999 ( Số 182)
_ Công ước về Trả công bình đẳng, năm 1951 ( Số 100)
_ Công ước về Phân biệt đối xử ( Việc làm và nghề nghiệp), năm 1958 ( Số 111)

2.2. Các công ước ưu tiên

Hội đồng Quản trị của ILO cũng xác định 4 công ước khác thuộc loại “ưu tiên” , và vì vậy khuyến khích các quốc gia thành viên phê chuẩn bởi vì chúng có tầm quan trọng đối với hoạt động của hệ thống tiêu chuẩn lao động quốc tế.

Bốn công ước ưu tiên là:

_ Công ước về Thanh tra lao động , năm 1947 ( số 81)
_ Công ước về Thanh tra lao động (nông nghiệp) , năm 1969 ( số 129)
_ Công ước về Tham vấn ba bên ( tiêu chuẩn lao động quốc tế), năm 1976 ( số 144)
_ Công ước về Chính sách Việc làm , năm 1964 (số 122).

3. CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ ĐƯỢC THIẾT LẬP NHƯ THẾ NÀO?

Tiêu chuẩn lao động quốc tế được rút ra từ mối quan tâm ngày càng tăng của quốc tế về việc phải có biện pháp về từng vấn đề cụ thể nào đó, chẳng hạn việc bảo vệ thai sản cho phụ nữ đang làm việc , hoặc bảo đảm điều kiện làm việc an toàn cho lao động nông nghiệp.

Việc xây dựng tiêu chuẩn lao động quốc tế là một quá trình đặc trưng với sự tham gia của đại diện các chính phủ, người lao động, người sử dụng lao động từ khắp nơi trên thế giới.

Bước đầu tiên , Hội đồng quản trị đồng ý đưa một vấn đề vào Chương trình nghị sự của kỳ họp Hội nghị Lao động Quốc tế sắp tới. Văn phòng Lao động Quốc tế chuẩn bị một bản báo cáo phân tích luật pháp và thực tiễn của các quốc gia thành viên liên quan tới vấn đề nói trên. Bản báo cáo này được gửi cho các quốc gia thành viên, các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động để có ý kiến và sau đó được thảo luận tại Hội nghị Lao động Quốc tế. Sau đó, báo cáo thứ hai sẽ được Văn phòng Lao động Quốc tế chuẩn bị kèm theo Dự thảo văn kiện để thảo luận tiếp và sau đó trình ra thảo luận tại kỳ họp tiếp theo của Hội nghị Lao động Quốc tế, tại đó Dự thảo văn kiện được bổ sung , nếu cần thiết, và trình ra Hội nghị để thông qua. Cơ chế “ thảo luận hai vòng” tạo điều kiện cho các đại biểu tham dự Hội nghị có đủ thời gian xem xét và cho ý kiến vào Dự thảo văn kiện. Để được thông qua , văn kiện tiêu chuẩn lao động quốc tế cần hội đủ 2/3 số phiếu tán thành.

Hội nghị Lao động Quốc tế hiện nay đã bắt đầu sử dụng “cách tiếp cận lồng ghép” với mục đích nâng cao hơn nữa tính nhất quán, tính phù hợp và tác động của các hoạt động liên quan tới các tiêu chuẩn và xây dựng một kế hoạch hành động cả gói bao gồm các công cụ đồng bộ để giải quyết một vấn đề chuyên biệt nào đó. Những công cụ này có thể gồm các công ước, các khuyến nghị và các công cụ khác, các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu và phổ biến kiến thức và sự hợp tác giữa các cơ quan với nhau. Lần đầu tiên cách tiếp cận này được sử dụng trong năm 2003 để xây dựng Chiến lược toàn cầu để cải thiện an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp toàn thế giới , sau đó nó được sử dụng trong năm 2004 để xem xét vấn đề lao động di trú và sẽ tiếp tục được sử dụng đối với nhiều vấn đề khác ( chẳng hạn như việc làm của thanh niên) trong các kỳ họp tiếp theo của Hội nghị Lao động Quốc tế.

3.1. Tiêu chuẩn lao động quốc tế được xác định như thế nào?

Hội đồng Quản trị đưa vấn đề vào chương trình nghị sự của Hội nghị Lao động Quốc tế.

Văn phòng Lao động Quốc tế chuẩn bị báo cáo về luật pháp và thực tiễn kèm theo phiếu hỏi về nội dung của văn kiện mới được đề xuất.

Báo cáo được gửi cho các chính phủ, các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động để lấy ý kiến.

Văn phòng Lao động Quốc tế phân tích các ý kiến bình luận và chuẩn bị các ý kiến kết luận.

Thảo luận lần đầu các kết luận do Văn phòng Lao động Quốc tế đề xuất tại Hội nghị Lao động Quốc tế.

Văn phòng Lao động Quốc tế soạn thảo Báo cáo tóm tắt các ý kiến thảo luận và dự thảo văn kiện.

Báo cáo được gửi cho các chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động để lấy ý kiến.

Văn phòng Lao động Quốc tế chuẩn bị văn kiện sửa đổi bổ sung.

Thảo luận lần hai Dự thảo văn kiện tại Hội nghị Lao động Quốc tế.

Văn kiện được Hội nghị thông qua bằng đa số 2/3 số phiếu tán thành.

3.2. Ai là người thông qua tiêu chuẩn lao động quốc tế?

Hội nghị Lao động Quốc tế tập hợp các đoàn đại biểu của tất cả các quốc gia thành viên ILO. Mỗi đoàn đại biểu gồm:

2 đại biểu của chính phủ
1 đại biểu của người lao động
1 đại biểu của người sử dụng lao động

Mỗi đại biểu của chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động có 01 phiếu bầu tại phiên họp toàn thể.

3.3. Phê chuẩn

Các quốc gia thành viên ILO phải trình bất kỳ một công ước nào được thông qua tại Hội nghị Lao động Quốc tế, cho nhà chức trách có thẩm quyền của nước mình để ban hành các quy định pháp luật phù hợp hoặc có hành động khác, bao gồm cả việc phê chuẩn .

Một công ước được thông qua thường có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày nó được 2 quốc gia thành viên phê chuẩn. Việc phê chuẩn là một thủ tục chính thức khi một quốc gia thành viên chấp nhận công ước với tư cách là một văn kiện ràng buộc về mặt pháp lý. Một khi đã phê chuẩn công ước thì quốc gia thành viên sẽ là đối tượng của hệ thống giám sát thường xuyên của ILO chịu trách nhiệm đảm bảo công ước được áp dụng. Để tìm hiểu kỹ hơn về hệ thống giám sát của ILO, xem phần 3 của cuốn sách này.

3.4. Tính phổ thông và tính linh hoạt

Các tiêu chuẩn được thông qua bằng 2/3 số phiếu tán thành của các đại biểu thành viên ILO và chính vì vậy chúng là sự thể hiện các nguyên tắc đã được thừa nhận một cách phổ thông, phổ biến trên toàn cầu. Đồng thời, chúng cũng phản ánh một thực tế là các nước có nền văn hoá và lịch sử , hệ thống pháp luật đa dạng cũng như trình độ phát triển khác nhau. Trên thực tế, hầu hết các tiêu chuẩn được thiết lập theo một cách thức làm cho chúng đủ linh hoạt để có thể chuyển hoá vào luật pháp và thực tiễn quốc gia, có tính đến những khác biệt này một cách thích đáng. Thí dụ, các tiêu chuẩn về tiền công tối thiểu không đòi hỏi các quốc gia thành viên phải quy định một mức tiền công tối thiểu cụ thể mà thiết lập một hệ thống và cơ chế để xác định các mức trả công lao động tối thiểu phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của mình. Các tiêu chuẩn khác được gọi là “ các điều khoản linh hoạt” cho phép các quốc gia thành viên quy định các tiêu chuẩn tạm thời thấp hơn mức đã được xác định trong tiêu chuẩn , cho phép loại trừ khỏi phạm vi áp dụng của công ước một số loại lao động hoặc cho phép áp dụng một số phần nhất định của công ước. Các nước phê chuẩn thường được yêu cầu tuyên bố với Tổng Giám đốc ILO về việc họ sẽ thực hiện bất kỳ phương án linh hoạt nào cho phép và chỉ được phép vận dụng các điều khoản linh hoạt này sau khi đã có tham vấn với các đối tác xã hội. Tuy nhiên, việc bảo lưu đối với các công ước của ILO là không được phép.

3.5. Cập nhật tiêu chuẩn lao động quốc tế

Hiện tại đã có 185 công ước và 195 khuyến nghị , trong đó có một số ban hành từ năm 1919. Có thể hiểu rằng một số trong các văn kiện đó không còn phù hợp với nhu cầu ngày nay. Để giải quyết vấn đề này, ILO đã thông qua các công ước bổ sung, sửa đổi, thay thế cho các công ước đã lỗi thời , hoặc các nghị định thư bổ sung các quy định mới vào các công ước cũ. Hội nghị Lao động Quốc tế cũng có thể chấp thuận việc rút bỏ các công ước hoặc khuyến nghị chưa bao giờ có hiệu lực. Từ năm 1995 đến 2002 Hội đồng Quản trị đã rà soát tất cả các tiêu chuẩn của ILO được thông qua trước năm 1985, trừ các công ước thuộc diện cơ bản và diện ưu tiên, để xem xét liệu có cần sửa đổi, bổ sung gì không. Kết quả của việc rà soát này là 71 công ước, bao gồm cả các công ước cơ bản và ưu tiên và các công ước được thông qua sau năm 1985 – đã được công nhận là “ còn hợp thời” và được khuyến nghị cần phát huy tính tích cực của chúng. Đối với số tiêu chuẩn còn lại, Hội đồng Quản trị đã quyết định một số cần sửa đổi, một số có tính chất tạm thời, một số đã lỗi thời và một số cần phải tiếp tục nghiên cứu và thu thập thêm thông tin. Không đạt được kết luận về 2 văn kiện. Có 2 công ước được chấp thuận tiếp tục xúc tiến sau khi vấn đề lao động di trú được thảo luận tại Hội nghị Lao động Quốc tế năm 2004. Tiếp đó, vào năm 1997 Hội nghị Lao động Quốc tế thông qua một quy định sửa đổi Điều lệ ILO cho phép bãi bỏ một công ước đang có hiệu lực nhưng được công nhận là lạc hậu nếu 2/3 đại biểu bỏ phiếu tán thành về biện pháp này. Quy định sửa đổi này đã được hơn 80 nước phê chuẩn nhưng vẫn chưa có hiệu lực vì chưa hội đủ điều kiện cần thiết.

4. CÁCH THỨC SỬ DỤNG TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ

4.1. Mô hình và mục tiêu của luật lao động

Tiêu chuẩn lao động quốc tế là công cụ chủ yếu để các chính phủ , có tham vấn người lao động và người sử dụng lao động, dựa vào để soạn thảo và thực hiện luật lao động và chính sách xã hội phù hợp với các chuẩn mực đã được quốc tế thừa nhận. Đối với nhiều quốc gia thành viên quá trình này bắt đầu bằng một quyết định xem xét phê chuẩn công ước ILO . Các nước thường trải qua một giai đoạn xem xét và, nếu cần, sửa đổi luật pháp và chính sách của mình để đạt được sự tuân thủ với văn kiện mà họ muốn phê chuẩn. Tiêu chuẩn lao động quốc tế ,vì vậy, đóng vai trò như là mục tiêu phấn đấu hài hoà luật pháp và thực tiễn quốc gia trong một lĩnh vực nào đó; việc phê chuẩn trên thực tế có thể diễn ra sau đó trên con đường thực hiện nó. Một số nước quyết định không phê chuẩn một công ước nhưng lại nội luật hoá tiêu chuẩn đó vào luật pháp của mình. Những nước đó đã sử dụng các tiêu chuẩn của ILO như mô hình mẫu để soạn thảo luật và chính sách của mình. Tuy nhiên, các nước khác đều phê chuẩn công ước ILO một cách tương đối nhanh và sau đó triển khai các hoạt động để đưa luật và thực tiễn quốc gia vào khuôn phép tuân thủ; ý kiến bình luận của cơ quan giám sát của ILO (xem phần 3) và hỗ trợ kỹ thuật có thể hướng dẫn cho họ trong quá trình này. Đối với những nước như vậy việc phê chuẩn là bước đầu tiên trên con đường thực hiện một tiêu chuẩn.

4.2. Nguồn luật quốc tế áp dụng tại cấp quốc gia

Tại nhiều nước thì các điều ước quốc tế đã được phê chuẩn mặc nhiên được áp dụng ở cấp quốc gia. Các toà án của họ, vì vậy, có thể sử dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế để xét xử các vụ việc mà luật quốc gia điều chỉnh chưa hết hoặc chưa điều chỉnh, hoặc dựa vào các định nghĩa nêu trong các tiêu chuẩn lao động quốc tế như “lao động cưỡng bức” hoặc “phân biệt đối xử”.

4.3. Các nguyên tắc chỉ đạo cho các chính sách xã hội

Ngoài việc làm khuôn mẫu cho luật , tiêu chuẩn lao động quốc tế còn có thể cung cấp các nguyên tắc chỉ đạo cho việc xây dựng các chính sách quốc gia và địa phương , như các chính sách về việc làm, thuê mướn lao động và gia đình . Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng có thể được sử dụng để cải tiến các cơ cấu hành chính khác nhau như quản lý lao động , thanh tra lao động, quản lý bảo hiểm xã hội , dịch vụ việc làm vv… Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng có thể là nguồn mà các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động có thể áp dụng để xây dựng một quan hệ lao động tốt , và các mô hình mẫu cho thoả ước lao động tập thể.

4.4. Các lĩnh vực tác động khác

Trong khi những người sử dụng chính các tiêu chuẩn lao động quốc tế là các thành viên Tổ chức Lao động Quốc tế, thì các đối tác khác cũng tìm thấy ở các tiêu chuẩn lao động quốc tế những công cụ hữu ích. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới khía cạnh đạo đức của các sản phẩm và từ đó đã dẫn đến việc các công ty đa quốc gia thông qua các nguyên tắc ứng xử tự nguyện để giám sát các điều kiện lao động tại các địa điểm sản xuất ra sản phẩm và tại những nơi thuộc dây chuyền cung cấp của mình. Phần đông trong số 500 công ty hàng đầu ở Mỹ và Anh quốc đã thông qua nguyên tắc ứng xử dưới một dạng nào đó, trong đó có rất nhiều nguyên tắc ứng xử tham khảo các tiêu chuẩn của ILO. Một cửa hàng bách hoá ở Anh quốc, chẳng hạn, đã xây dựng nguyên tắc ứng xử cho nhà cung cấp dựa trên 15 công ước và khuyến nghị của ILO. Mặc dù những nguyên tắc ứng xử này không phải là cái thay thế cho các văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc, nhưng chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc phổ biến các nguyên tắc chứa đựng trong các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Tương tự như vậy , tiêu chuẩn lao động quốc tế đã được sử dụng trong một loạt các thoả thuận tập thể quốc tế, thí dụ trong ngành dệt may.

Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng có tác động trực tiếp tới những ngành toàn cầu hoá như vận tải biển. Chúng được sử dụng không chỉ để làm khuôn mẫu cho các quy định luật pháp hàng hải quốc gia của các quốc gia thành viên mà còn làm cơ sở cho thanh tra tàu thuỷ tại cảng quốc gia và có tác động trực tiếp tới quy chế và luật lệ của các tổ chức quốc tế khác, như Tổ chức Hàng hải quốc tế.

Các tổ chức quốc tế khác thường xuyên sử dụng tiêu chuẩn lao động quốc tế trong các hoạt động của mình. Các báo cáo về việc áp dụng tiêu chuẩn lao động quốc tế được trình thường xuyên cho các cơ quan nhân quyền của LHQ và các cơ quan quốc tế khác. Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á đã lồng ghép một số tiêu chuẩn lao động vào một số các hoạt động của mình, kể cả Báo cáo Chiến lược Xoá đói giảm nghèo của Ngân hàng Thế giới. Các nhóm vận động và các tổ chức phi chính phủ dựa vào tiêu chuẩn lao động quốc tế để kêu gọi thay đổi chính sách , luật pháp và thực tiễn. Cuối cùng, một loạt các nước và các tổ chức khu vực đã lồng ghép việc tôn trọng tiêu chuẩn lao động quốc tế vào các thoả thuận thương mại song phương, đa phương và khu vực, như Thi trường chung cho Nam Mỹ ( MECORSUR) và Cộng đồng Caribê (CARICOM).

4.5. Vai trò của các tổ chức người lao động và người sử dụng lao động

Các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động đóng vai trò thiết yếu trong hệ thống tiêu chuẩn lao động quốc tế: họ tham gia vào việc chọn chủ đề cho tiêu chuẩn mới của ILO và trong việc soạn thảo văn bản và bỏ phiếu để Hội nghị Lao động Quốc tế quyết định thông qua hay không thông qua một tiêu chuẩn mới được dự thảo. Nếu một công ước được thông qua , người lao động và người sử dụng lao động có thể khuyến khích chính phủ phê chuẩn nó. Như sẽ thảo luận ở phần sau của cuốn sách này, nếu công ướcđó được phê chuẩn, chính phủ phải định kỳ báo cáo cho ILO về cách thức áp dụng nó trong luật pháp và thực tiễn. Báo cáo của Chính phủ phải được gửi cho các tổ chức đại diện của người lao động và người sử dụng lao động, các tổ chức này có thể có ý kiến bình luận về các báo cáo đó. Các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động cũng có thể cung cấp các thông tin liên quan trực tiếp cho ILO. Họ có thể khởi xướng sự phản kháng về những vi phạm công ước ILO theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 24 của Điều lệ ILO. Các đại biểu của người lao động và người sử dụng lao động tại Hội nghị Lao động Quốc tế cũng có thể đưa khiếu kiện chống lại các quốc gia thành viên theo quy định tại Điều 26 của Điều lệ ILO.

Nếu một quốc gia thành viên đã phê chuẩn Công ước Tham khảo ý kiến ba bên (Tiêu chuẩn lao động quốc tế) số 144, năm 1976 , điều mà hơn 110 nước đã làm, thì nó có nghĩa vụ phải tổ chức tham vấn ba bên cấp quốc gia về công ước mới được đề xuất sẽ được thảo luận tại Hội nghị , về việc tống đạt các văn kiện đó cho nhà chức trách có thẩm quyền , về các báo cáo liên quan tới các công ước đã phê chuẩn, về các biện pháp liên quan tới các công ước và khuyến nghị chưa phê chuẩn và các đề xuất về bãi ước công ước.

Các bạn có thể download bản đầy đủ của sổ tay tại đây: https://goo.gl/h7AaEb

Link bài   gốc: http://www.unionsnetwork.org/2018/12/11/tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-la-gi/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s