Tiến đến tự cô lập trong truyền thông

Những hạn chế của chính phủ Trung Quốc đối với báo chí và truyền thông xã hội là điều mà ai cũng biết. Điều mà ít người nói đến là hậu quả của hạn chế truyền thông trên mối tương quan giữa chính phủ và xã hội dân sự. Thí dụ dưới đây về trao đổi giữa một nhà lãnh đạo của một tổ chức phi chính phủ (NGO) ở Trung Quốc và một nhóm họp tại hiện trường (khoảng 25 người) làm nổi bật mối quan tâm của NGO về tiết lộ hoạt động của NGO trong khunh cảnh của chính phủ độc tài chú tâm trong đàn áp xã hội dân sự và giới hạn truyền thông.(1) Ông rất miễn cưỡng trong trao đổi với một phóng viên địa phương.

Snow-In-China1.jpg
Mùa đông ở Quảng Châu, Trung Quốc. Photo: Thatsmags

Lãnh đạo NGO: Tôi không muốn chia sẻ thông tin đó với bạn ở đây. Tôi không chắc ai trong khán giả này. Có thể có những người thân chính phủ ở đây, và tôi không muốn nói bất cứ điều gì để khiến bất cứ ai gặp rắc rối.
Phóng viên địa phương: Tôi là phóng viên. Tôi không ở đây đại diện cho chính phủ.
Lãnh đạo NGO: Tôi chỉ muốn không có báo cáo về việc này.
Một người trong khán giả: Đừng lo! Ngay cả khi phóng viên muốn báo cáo về điều này, nó sẽ không bao giờ xuất hiện trong in ấn đâu!
Khán giả – Mọi người cười!

Trong trao đổi ngắn gọn này, việc hạn chế truyền thông cũng có thể là có lợi cho xã hội dân sự.(1) Việc thiếu tự do truyền thông ở Trung Quốc là điều đã được nhiều người nghiên cứu và thảo luận, như nhiều học giả đã chỉ ra, thường tạo nên sự tương tác giữa các động lực phức tạp.(2) Việc trao đổi ngắn gọn trên nhấn mạnh rằng đối với một chính phủ quan tâm đến việc hạn chế quyền tự do lập hội và tự do báo chí, việc thiếu các kênh thông tin mở có thể là một con dao hai lưỡi, có thể có hại cho cả người trấn áp và người bị giới hạn. Với lệnh cấm “các tổ chức bất hợp pháp” do các cơ quan truyền thông ở Trung Quốc ban hành, các cơ quan chính phủ các cấp bị cắt đứt khỏi thông tin về các hạ tầng cơ sở tự phát từ dân (grassroots groups). Thông thường, nhiều phương tiện truyền thông háo hức báo cáo về các hoạt động dịch vụ xã hội của các nhóm cơ sở từ dân, thậm chí cả những nhóm mà chính phủ cho là bất hợp pháp. Ở Trung Quốc, các báo từ các trung tâm truyền thông quốc gia, tỉnh và địa phương bày tỏ sự quan tâm rất lớn trong việc tìm hiểu và báo cáo về công việc của các nhóm cơ sở từ dân.(1) Nhưng nếu chính phủ trong biện pháp giới hạn truyền thông tỏ ra nhạy cảm rõ ràng về các hoạt động của các nhóm tự phát, có nghĩa là các biên tập viên muốn giữ công việc của họ thường xuyên quyết định giấu đi các bài viết về các hoạt động nầy.

Vào cuối những năm 1950, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng tiêu cực của chính sách truyền thông và sự kiểm soát chặt chẽ đối với các hệ thống xã hội mà đảng đã áp đặt lên toàn xã hội. Trong thời gian nầy, nạn đói bắt đầu bao trùm những khu vực lớn của Trung Quốc, nhưng các quan chức cấp thấp, sợ hãi việc báo cáo lên chính quyền trung ương các thất bại của chính sách cải cách ruộng đất, tiếp tục báo cáo thu hoạch bội thu cho mọi địa phương. Nếu thực tế của tình hình được bàn cải và tiếp cận truyền thông sớm hơn, chính quyền trung ương có thể chuyển chính sách và ngăn chặn nạn đói lan tràn và cái chết của khoảng 30 triệu người.

Ở Trung Quốc ngày nay, định nghĩa của các vấn đề “nhạy cảm” (phải bị kềm chế và kiểm duyệt bởi chính phủ) là không được định nghĩa rõ ràng và thường xuyên có tính cụ thể tùy vào từng địa phương.(1) Trong cộng đồng NGO của Quảng Đông, ví dụ, người ta thường biết rằng vấn đề lao động là vấn đề nhạy cảm cho chính quyền địa phương trong hoạt động của NGO và các cơ sở tự phát. Lý do về các vấn đề nầy trở nên nhạy cảm đối với chính quyền là khá đơn giản. Có hàng chục triệu lao động nhập cư tập trung ở một chuỗi các khu vực nhà máy nằm giữa Quảng Châu và Thẩm Quyến (một khoảng cách chỉ khoảng 110 cây số), với rất nhiều người trong những môi trường đông đúc như vậy, và với điều kiện lao động thường là không đảm bảo theo tiêu chuẩn, thật dễ dàng để tưởng tượng những người lao động tự lập nghiệp đoàn lao động để đòi hỏi cải thiện điều kiện làm việc và giám sát trách nhiệm của chính quyền trong việc duy trì luật lao động. Một lực lượng như vậy, người ta nói, có thể thách thức không chỉ chính phủ địa phương mà còn cả chính Đảng Cộng sản, tiến đến việc thành lập và phát triển rộng rãi các nghiệp đoàn chính danh vì người lao động và do người lao động “thực sự”. Đứng trước thực tế này, nhiều người cho rằng, vấn đề lao động là vấn đề nhạy cảm nhất trong tất cả các lĩnh vực phi chính phủ ở địa phương nầy. Ở đây, chính quyền tập trung giới hạn báo chí không cho viết nhiều về vấn đề của người lao động, và bắt bớ các thành phần ủng hộ người lao động.(3)

Tuy nhiên, ở các khu vực khác của Trung Quốc, vấn đề nhạy cảm nhất về hoạt động xã hội có thể là một vấn đề khác.(1) Ví dụ, trong các khu vực xung quanh Đập Tam Hiệp và các làng nằm dọc theo nhiều con sông bị ô nhiễm khủng khiếp của Trung Quốc, hoạt động môi trường đã dẫn đến xung đột bạo lực giữa người dân địa phương và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chính quyền. Ở những nơi khác, vấn đề có thể hoàn toàn khác, giống như việc truyền nhiễm bệnh HIV và AIDS ở các làng của tỉnh Hà Nam, nơi mà bạo lực do chính phủ tổ chức chống lại các tổ chức NGO và tổ chức hạ tầng tự phát làm dịch vụ xã hội giúp đở trẻ em mồ côi và người già sắp chết.

Sự hạn chế truyền thông ảnh hưởng đến nhận thức của mọi người về những gì được coi là hoạt động thiện nguyện trong các vấn đề nhạy cảm với chính quyền.(1) Nếu người ta không biết rằng chính quyền ở một thành phố lân cận đã đàn áp một tổ chức NGO và cầm tù các nhà lãnh đạo của họ, người ta có thể không nhận thức được một nguy cơ lớn khi tham gia vào các hoạt động thiện nguyện tương tự tại địa hương của chính mình. Sự đàn áp bạo lực của hoạt động của dân ở làng Taishi và làng Dongzhou ở tỉnh Quảng Đông vào mùa thu năm 2005 là hoàn toàn không xuất hiện trên báo. Mặc dù các nhà quan sát đã thấy các báo cáo về cả hai sự cố ở Mỹ, Hồng Kông và Anh, tin tức đã bị chính quyền Trung Quốc che lấp. Chính vì vậy các nhà hoạt động nơi khác đã không được biết đến các bạo lực trấn áp nầy. Nhiều người vẫn tham gia các NGO hoạt động ở các thành phố Quảng Đông khác. Họ thực hiện các hoạt động của họ bất chập việc chính quyền cố gắng trấn áp các hoạt động nầy. Điều đáng chú ý là ở Trung Quốc, xã hội dân sự không được kết nối (như người nước ngoài có thể tưởng tượng), một phần vì hạn chế truyền thông, một phần vì tin tưởng chính trị, và một phần vì cân nhắc về cơm ăn áo mặc hàng ngày khiến mọi người không đủ thời gian để chú ý cho các vấn đề vượt quá sự tồn tại hàng ngày của họ.

Tóm lại, bản chất của sự nhạy cảm chính trị và sự đánh giá về rủi ro trong các hoạt động thiện nguyện không được định nghĩa rõ ràng như những người có quan điểm và hiểu biết về địa phương có thể phán đoán và tưởng tượng ra.(1) Mức độ chịu áp lực và nới lỏng của chính quyền trong các hoạt động của xã hội dân sự và khả năng xung đột giữa xã hội dân sự và chính quyền thường tùy thuộc vào các vấn đề có thể coi như là nhạy cảm với chính quyền địa phương và quyền lợi của các cá nhân điều hành guồng máy cai trị tại chổ, cũng như các vấn đề nhạy cảm cho trung ương.

Kiềm chế truyền thông có thể là một thanh kiếm hai lưỡi cho các chế độ độc tài. Trong khi kiểm soát truyền thông giúp ngăn chặn các lực lượng trong xã hội “liên kết”, các công cụ kềm chế nầy cũng giữ cho giới cầm quyền không hiểu rõ về động lực và biến thái trong nhiều vùng khác nhau của cả lãnh thổ. Một nghiên cứu về Ba Lan cung cấp một cái nhìn sâu sắc về tình trạng khó khăn của các chế độ độc tài trong việc kiểm soát thông tin.(4) Điều chính của bài nghiên cứu nầy như sau.

Chính phủ độc tài, đặc biệt là những chính phủ đã cướp chính quyền trong bạo lực, tự rước khó khăn nghiêm trọng cho họ qua kềm chế thông tin. Kềm chế thông tin cắt đứt giới cầm quyền với xã hội. Được cách ly bởi các quan chức chỉ chủ tâm chủ yếu vào tự tồn tại, giới cầm quyền hiểu càng ngày càng ít hơn về bản chất thực sự của nguyện vọng, sự sợ hãi và sở thích của các lực lượng xã hội, nhất là các thế lực xã hội mới hình thành trong một khung cảnh phức tạp mà chính quyền ráng duy trì việc cai trị. . . . Do đó, với thời gian trôi qua, các nhà chức trách có một biểu hiện hoàn toàn méo mó về thực tại, và. . . họ không thể làm bất cứ điều gì để sữa đổi chính sách không tưởng bởi vì thông tin chính xác về các nguồn lực quan trọng trong xã hội đơn giản là không có sẵn.(4)

Ở Trung Quốc, việc thiếu vắng một nền báo chí tự do có nghĩa là các cấp cao của chính phủ, nhất là chính phủ trung ương, phải dựa vào các nguồn thông tin bị bóp méo từ quan chức địa phương về các hạ tầng tổ chức cơ sở. Đó là, họ phải dựa vào các báo cáo từ các quan chức cấp địa phương. Tuy nhiên, như trường hợp của các tổ chức thiện nguyện HIV-AIDS được trích dẫn ở trên, các quan chức cấp địa phương quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ vị trí và cơ hội thăng tiến của họ hơn là nói với cấp trên trung thực về các vấn đề xảy ra trên qui mô địa phương của họ. Điều nầy dẫn đến các đàn áp xã hội dân sự lo cho người bệnh và người già như đã nhắt đến.

Mùa đông năm ngoái, khủng hoảng nhiên liệu là một bài học khó khăn, lạnh lùng trong luật của những hậu quả không mong muốn cho người cai trị. Khi các quan chức địa phương chạy đua để thực hiện nghị định của chính quyền trung ương nhằm cắt giảm sử dụng than, họ đã ra lệnh cho tất cả mọi người ở tỉnh Sơn Tây phía bắc chuyển từ than sang khí đốt, nhưng họ không biết liệu địa phương có đủ nguồn cung cấp khí đốt cho dân chúng hay không. Khi nhiệt độ giảm xuống dưới 0, nhưng trong vài giờ mỗi ngày trong những tháng mùa đông, người dân không thể bật lò sưởi hoặc thậm chí nấu ăn ở nhà vì các dụng cụ mới áp đặc nầy không có đủ khí đốt.(5)

Tính năng độc tài của chính quyền trung ương và các ông vua địa phương này tạo ra một loại “cơ hội chính trị” đặc biệt cấp vi mô cho phép các nhóm NGO hoạt động trong an ninh tương đối.(1) Như nhiều nhà hoạt động phi chính phủ đã đề xuất, trong các thuật ngữ gần như giống hệt nhau, “miễn là bạn không quá lớn, bạn có thể làm bất cứ điều gì. Nhưng nếu bạn phát triển quá lớn, đó là lúc bạn phải coi chừng, vì bạn sẽ trở thành một mối đe dọa cho chính quyền.” Trong một chế độ mà chính trị là một quá trình quyết định không dung cho những thế lực mới, sự khôn ngoan thông thường này – được thành lập trong kinh nghiệm sống- phục vụ như một điểm chung hạn chế về hành động quy mô lớn. Thật vậy, sự “khoan dung” của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ bất hợp pháp thường tùy thuộc mật thiết với chính trị cấp địa phương.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto- Canada
Bài viết thuộc Chương trình đào tạo cán bộ nghiệp đoàn lao động do Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam đồng tổ chức.  Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/NejyS4

 

 

 

 

Tham khảo:
1. Anthony J. Spires. Contingent Symbiosis and Civil Society in an Authoritarian State: Understanding theSurvival of China’s Grassroots NGOs. American Journal of Sociology, Vol. 117, No. 1 (July 2011), pp. 1-45.
2. Lee, Chin-chuan. 2000. Power, Money, and Media: Communication Patterns and Bureaucratic Control in Cultural China. Chicago: Northwestern University Press.
3. Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam. Đảng Cộng Sản đánh đập và bắt cóc những sinh viên hỗ trợ quyền của người lao động. https://nghiepdoansinhvien.org/2018/11/13/dang-cong-san-danh-dap-va-bat-coc-nhung-sinh-vien-ho-tro-quyen-cua-nguoi-lao-dong/
4. Gross, Jan Tomasz. 1979. Polish Society under German Occupation. Princeton, N.J.: Princeton University Press.
5. Why China’s winter fuel crisis is a cold, hard lesson in the law of unintended consequences. https://www.scmp.com/news/china/policies-politics/article/2124800/why-chinas-winter-fuel-crisis-cold-hard-lesson-law

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s