Truyện ngắn thời sinh viên: Tận cùng nỗi nhớ

Viết bởi Nguyễn Xuân Tường, đại học Thông tin liên lạc –Tiền thân của trường đại học Bưu điện- Học viện viễn thông sau này

IMG_20180205_151929_845.jpg

Cả một khu vườn cây lúc lỉu quả hiện ra trước mắt chúng tôi: Bãi vải Thái Lai ( huyện Yên Lãng Vĩnh Phú)! Trường Đại học thông tin liên lạc –Tiền thân của trường đại học Bưu điện- Học viện viễn thông sau này – sơ tán chiến tranh (thời chống Mỹ) ẩn mình trong các lùm cây ấy. Con sông Cà Lồ uốn khúc quanh quanh trở thành nơi bơi tắm lý tưởng cho các sinh viên mới nhập học.

Nhưng phong cảnh chẳng giải quyết được các vấn đề quan trọng. Nạn khan hiếm nhất lúc này là sách, là tài liệu giáo khoa các môn cơ bản, sách giải tích, phương trình vi phân, xác suất…ít có sinh viên nào tìm mua nổi.

Tôi may mắn được  cô Thủy sinh viên khoa hữu tuyến năm 1969 ký hiệu H69 (sau này cô là giám đốc Bưu điện tỉnh Bắc Ninh) cho mượn cuốn Giải tích, từ ngoài bìa đến bên trong chữ in còn rất sáng sủa. Cả lớp khóa 1974  mừng, có sách in trong tay chắc chắn kỳ thi sẽ đạt kết quả cao. Nào hay, xuống nhà bếp ăn xong suất cơm độn mì với canh rau lõng bõng trở về thì cuốn sách đã không cánh mà bay. Hối hận vì sách quý mà không cất cẩn thận tôi ngồi thẫn thờ nhìn ra những chùm vải chín đỏ mọng quanh nhà. Quả ngon thế, hấp dẫn thế sao không bị sinh viên  bẻ trộm? Thằng cha nào ranh mãnh thật, nó mê cuốn Giải tích tới mức nhẫn tâm. Bởi tại chính tôi khi mượn được cuốn sách về đã nói to cho cả phòng nghe: Đây là sách của cô gái chính tông quan họ, dịu hiền vào loạt nhất khóa 69”. Tôi đành về Hà Nội lùng tìm hết các quán sách cũ. Bất lực trở lại trường chịu trận trước chủ nhân của cuốn sách. Cô Thủy nói: “ Mất thì thôi, tiếc là anh không có  sách mà học”. Phần tôi lại lo cô có người thân sắp dùng đến sách đó nên cô mới giữ sách cẩn thận thế. Đành mang nợ, biết tin cô ra trường tốt nghiệp vào loại giỏi mà không cả dám tới chúc mừng: Lỗi với sách là lỗi với nhiều vấn đề lớn..

Sau mùa xuân thống nhất  đất nước (1975), các con đường từ các ngả sơ tán chiến tranh trở về Hà Nội thật tấp nập. Trường Đại học bưu điện cố gắng nhạy bén lắm cũng chỉ nhảy được về vị trí ngoại ô gần điểm cuối của bến xe điện Hà Nội- Hà Đông. Trường điều động một nửa số học viên về chiếm đất mới, giao cho  lớp 74K và cả hai khóa 75, khóa 76 ở lại bảo vệ cơ sở cũ (bãi vải Thái lai). Một sự kiện rắc rối đã xảy ra. Mấy phần tử xấu ở địa phương Thái Lai muốn xua đuổi sinh viên đi khỏi đó thật nhanh đã dựng chuyện vu cáo nhà trường. Họ phục kích đánh bắt sinh viên trường rồi kích động lôi kéo thanh thiếu niên, đàn bà Thái Lai vào cuộc. Ban đêm họ ào vào cổng trường phóng hỏa đốt cháy một nhà ở của sinh viên. Số nữ sinh ở đó sợ quá chạy dạt sang lớp 74K chúng tôi .

Không để họ lấn tới, toàn bộ sinh viên của trường đã dàn hành ngang chặn lại. Kẻ chủ mưu gây rối trong bóng tối giấu mặt, không chịu ra đối thoại giải quyết còn xúi giục đám trẻ hò hét tập kết gạch đá. Chúng tôi đành quay vào chuẩn bị phương án khác. Đám trẻ em người Thái lai cầm gậy gộc, gạch đá tiếp tục kéo đến càng lúc càng đông. Thừa thế kẻ chủ mưu ra lệnh cho lũ trẻ đồng loạt ném tới tấp vào vai, vào lưng chúng tôi. Tức quá không chịu nội, mấy sinh viên tự vệ của lớp (thuộc diện sinh viên cũ của  trường nhập ngũ, sau hòa bình được trở về học tiếp) chạy vào phòng lấy súng ra lên đạn. Chúng tôi vội ngăn lai. Không kịp nữa, anh Ngọc (sau này về công tác ở bưu điện Vĩnh Phú) đã nghiến răng quát: “chúng mày muốn chết hả” rồi nhằm thẳng một kẻ hung hăng bóp cò. Thấy mũi súng và tiếng lên đạn giận giữ bọn chúng lùi lại dạt ra hai bên. Cách! Kim hỏa khẩu súng trong tay anh Ngọc đã mổ cò. Toàn bộ lớp tôi lo sợ dựng tóc gáy. May mắn làm sao, viên đạn thối, nếu không án mạng xảy ra, sự việc còn rắc rối đến đâu.

Chúng tôi chuyển về trường mới-vị trí học viện viễn thông ngày nay, hưởng những gáo nước máy đầu tiên của đời sinh viên, xa con song Cà Lồ đầy chất thôn quê, xa bãi vải ngọt ngào trong sự thèm khát học trò, xót xa vì cuộc chia tay với đêm lửa cháy trường rừng rực ( ba tháng sau có tin công an địa phương đã đưa ra xét xử và bắt đi kẻ chủ mưu gây rối). Niềm vui là có nước máy dùng, nỗi buồn vẫn là lán học. Vẫn là nhà tranh vách đất như ở bãi vải Thái Lai, vẫn nền đất, lối đi còn lầy bùn hơn. Trùm lên tất cả lúc này  là vấn để gay cấn của toàn quốc: Lương thực khan hiếm. Báo Nhân Dân luôn chạy hàng tít lớn: “Làm gì và làm thế nào để giải quyết vấn đề ăn của xã hội’. Tôi nhớ trước đó một bạn Cu Ba đã nói: “Các đồng chí đánh Mỹ không lo chỉ lo sau đánh Mỹ”. Bây giờ thực rõ, kho tàng trống rỗng. Chúng ta không biện luận cho thực tế báo động cay đắng này. Sinh viên bộ đội, công an gì gì tuốt tuột phải đi lao động trồng sắn lấy ngắn nuôi dài. Cơm bữa phải độn hạt mì bo bo, sắn khô, nhai nuốt trệu trạo. Ở bếp nhà ăn tập thể của trường có câu: “Canh toàn quốc, nước chấm đại dương”, nghĩa là bát canh không có cái vớt, còn nước chấm huễnh hoãng chỉ là nước muối. Thật lao đao chật vật phục vụ cho cái dạ dày.

Thiếu chất trong khẩu phần ăn, các sinh viên đói cồn cào; ăn cơm về còn hỏi nhau: “Không biết mình đã ăn chưa nhỉ”. Anh Vinh lớp 74K chạy sang phòng tôi xin nước uống ừng ực một hơi hết nửa lít. Hỏi sao uống lắm thế, anh bảo, uống thế mới có cảm giác đã ăn cơm rồi. và cái chính là để cho mọi thứ trong ruột, kể cả bã thải nó duềnh lên tiêu hóa lại lần nữa”. Mùa rau đến xanh đồng quanh trường, giá rẻ, sinh viên được ăn bù rau, anh Vinh lại đùa: Ra đường có thằng nào bị xe kẹp ruột xanh lè thì đích thị đó là học sinh trường mình- bưu điện!

Cứ nghĩ đang là sinh viên đi học chịu khổ đã đành. Lớp chúng tôi  đa phần cán bộ bộ đội đi học tranh thủ về thăm chị Bắc vợ anh Toản (sau này anh là giám đốc bưu chính Bắc Giang). Chị học khóa H69 mới ra trường  tập sự năm thứ hai, trong buổi trời nóng như đổ lửa đi dựng cột điện chạy về nhà hoa mắt chẳng nhận ra bạn, ra chồng, một lúc tỉnh mới ngỡ ngàng: chiều thứ bảy y lời hẹn khách về. Mọi người đều sửng sốt: Kỹ sư ra trường đi khiêng cột điện, kéo dây kiệt sức, ưu tiên là phụ nữ đang có thai mới được nghỉ sớm nửa giờ. Cơ sở vật chất sau chiến tranh ngành còn gì đâu, ai cũng phải sắn tay áo làm việc. Mở vung nồi cơm nhà bạn- một tri thức toàn tòng, nhẵn thin dính 3 hạt mồ côi, lại là hạt mì, không phải cơm.

Trở lại trường lên lớp tiết cuối, chờ mãi không thấy thầy giáo, chúng tôi toan đứng dậy về thì thầy Bình (học sinh giỏi mới tốt nghiệp trường giữ lại dạy năm đầu) dáng lừ đừ đến cửa lớp. Cố gắng giảng  một lúc tiếng thày phều phào: “Thú thực với các anh ( đa số lớp đều cao tuổi hơn thày) cứ gần trưa là em đói hoa mắt”. Tiêu chuẩn 12kg độn toàn hạt bo bo, sức thanh niên quả thực chẳng bõ bèn gì.. Cả khoa kinh tế cùng ái ngại. Trang giáo án như chao nghiêng, xiên vào lồng ngực. Cuộc đời trên học đường đang thiếu quá nhiều thứ, chỉ duy nhất vẫn đầy ắp kỳ vọng, vận nước khó khăn, phải chấp nhận, phải vượt lên.

Đêm mùa mưa, đói bụng thường khó ngủ thành giấc. Vẫn là anh Vinh lớp tôi ngồi dậy thu lu  học một mình. Thoáng nghe tiếng động dưới chân giường, qua lớp vách nhà thủng thấy một bàn tay thô ráp đang thò vào trộm đi những đôi dép nhựa hiếm họi. Anh Vinh hét toáng, cả lán vùng dậy hô hoán. Kẻ trộm đã mất hút vào trong bóng đêm. Tổng hợp sơ bộ, mất mười mấy đôi dép. Thứ gì cũ mới bây giờ đều có giá.  Ồn ã một lúc, lán sinh viên lại ngủ thiếp đi trong dự tính sáng mai đi học quá nửa lớp sẽ là “dân chân đất” cắp sách. Mưa vẫn không ngớt, đều đều ru sinh viên nghèo vào giấc. Gần sáng, tôi bừng tỉnh vì mùi dầu hỏa bay sặc sụa.. Vùng dậy, thò chân xuống giường chạm ngay phải nước. Nước tràn về dâng lưng cọc giường. Lán học thêm phen nhốn nháo. Mấy thứ nhẹ xốp như dép Thái nổi lềnh bềnh tụ về phía cửa. Lọ muối lạc (thức ăn chính của tôi), muối trắng quên không đậy chặt đều tan thành nước. Chính cái bếp dầu của anh Nguyễn Trọng Xô (sau này là phó giám đốc bưu điện Hải Dương) dùng để nấu ăn thêm cho có sức học đã bị nước lùa vào dầu nổi lên lênh láng. Vừa tiếc của vừa bị hôi hám nhức đầu. Sáng rõ, nhìn sang nhà thày giáo Khoa (hiệu phó), thầy Lân (trưởng khoa cơ bản) và cả khu sinh viên đều chìm chung cùng nước ruộng sát nhà. Có Lệnh: đề phòng cột lún, nhà sẽ bị đổ, nhà tranh tre cũng vẫn có thể gây tai nạn. May mà chỉ mưa úng, không có gió lốc, nếu không lều lán sinh viên làm sao chịu nổi. Lại vẫn giọng anh Vinh: Cho nó đổ hẳn đi để liên hợp quốc vào xây dựng nhà cửa đàng hoàng!

Mọi người cười chua chát, liên hợp quốc đâu chả thấy, phải tự mình cứu lấy mình. Chúng tôi cùng nhau chống đỡ cột nhà, xong khỏa nước đến lớp. Vẫn đôi chút mừng vì chỉ có khu ký túc xá là thấp, trường không có tiền làm tạm, bị ngập. Đường bẩn ngợp ngụa, bùn đất nhày nhụa, ai không bị trộm dép cũng phải xách tay.

Thời điểm làm luận án tốt nghiệp rồi cũng đến. Cả lớp rậm rịch vì những đề tài được giao cho mỗi nhóm khác nhau, mà còn vì sự vụ: Khoa Kinh tế chỉ có hai học sinh phổ thông theo học là Trần thị Minh (sau này là giám đốc trung tâm chuyển phát nhanh) và Nguyễn Văn Tín người Quảng Bình miền Trung. Trong cái đói chung của cả nước, miền Trung càng đói hơn, khó hơn, nói chi đến kiếm số tiền nhất thiết phải có để làm luận án. Nhìn Tín vò đầu bứt tai trong bộ áo quần chưa bao giờ được là nếp phẳng phiu, ai nấy rất ái ngại. Ăn đói mặc xấu chịu đươc, riêng tiền lo làm luận án  kiếm chịu kiểu gì? Tôi vốn một lần được lớp giúp toàn bộ tiêu chuẩn thuốc lá (của cán bộ, bộ đội đi học) cấp bán phân phối về cưới vợ nên băn khoăn hơn cả, bèn bảo lớp trưởng Nguyễn Thọ Luật (sau này về công tác ở cục vật tư) rằng không phải chờ đến kỳ phát lương để trích số tiền ủng hộ của mỗi người cho Tín nữa, tôi đã gác lại một khoản chi để đưa cho Tín thì được lớp trưởng cho biết đã có người nhận cho Tín vay rồi; người đó là ai thì lớp trưởng cũng không được biết. Mấy ngày sau tôi để ý thấy anh bạn cùng nằm chung giường tầng với tôi ( mùa đông thường ngủ chung cho đỡ rét), ấy là thương binh Phạm Văn Nghĩa (sau này là phó giám đốc công ty Tem Việt Nam) cả tuần cứ ngồi lỳ ở bàn học, không chịu đi ăn sáng, hoặc ăn khuya. Đợt rét nàng Bân năm ấy rét lắm, quán phở tư nhân ngoài cổng ngon có tiếng, chỉ vắng bóng mỗi người thương binh này. Học như là để quên đói, như sợ sắp ra trường không được học nữa. Mãi rồi tôi mới hay, Phạm Văn Nghĩa đã xuất số tiền dự phòng cho Tín dùng. Trong khi tiền viện trợ của bố mẹ ở tận Phú Thọ gửi xuống để ăn thêm giữ sức khỏe thì vì lý do gì đó chưa đến kịp.

Chúng tôi giúp nhau làm luận án, chỉ cho nhau những địa chỉ có thể đến để đọc tài liệu tham khảo, và rồi cùng vui tràn trề với không khí cả lớp cùng tốt nghiệp 100%.

Kỷ niệm lui dần vào dĩ vãng. Học viện đàng hoàng đã được thay thế cho trường cũ đầy bùn đất. Sinh viên ngày nay dường như không đủ sức, hoặc không đủ nhiệt tình để đọc hết sách cần đọc cho giáo trình, trái hẳn vớ thời chúng tôi thèm những trang sách tham khảo đến nao lòng. Vẫn là lúc nào, thời nào, bao giờ con người cũng có lỗi với sách!

Một lần được gặp lại và được tặng quà  của các anh Ngọ (nguyên trưởng phòng tổ chức bưu điện Hải Dương), anh Xô, anh Luật, anh Nghĩa và Trần thị Minh tại chính nhà riêng của mình tôi đã nhắc lại thời sinh viên có lương mà vẫn đói, các anh đều cùng nói “ đều là những chuyện không thể quên”!.

Bạn bè mãi nhớ đến nhau. Trường Đại học thông tin liên lạc- đại học bưu điện đã ghi vào tâm não. Bây giờ và những năm tháng ấy… mấy chục năm rồi, lớp xưa, người cũ, xa thế, thiếu thốn khổ thế  vẫn đằm thắm hiện rõ trong ánh măt mỗi người./.

Nguyễn Xuân Tường

Bài viết tham gia Cuộc thi viết truyện ngắn Thời sinh viên của tôi năm học 2018-2019 do Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tổ chức

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s