Nghiệp đoàn lao động nằm vùng trong thiên đường của người lao động

Diana Fu là một giáo sư chính trị châu Á tại đại học Toronto Canada. Cô nghiên cứu mối quan hệ giữa tranh chấp trong dân chúng, quyền lực nhà nước và xã hội dân sự ở Trung Quốc hiện nay. Cuốn sách của cô “Huy động dân sự không có quần chúng: Kiểm soát và tranh chấp ở Trung Quốc”, phân tích sự kiểm soát của nhà nước và xã hội dân sự dưới chính thể cai trị độc đoán. Cuốn sách đoạt giải Luebbert năm 2018 cho cuốn sách hay nhất về so sánh chính trị học từ Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ.

Bài viết này của cô phân tích việc triển khai hoạt động tập thể trong các nghiệp đoàn lao động ngầm trong vùng đồng bằng sông Châu Giang ở Trung Quốc, gần Hồng Kông.

Untitled.png

 Sự hình thành của các nghiệp đoàn nằm vùng và nhu cầu hiện hữu của các tổ chức nầy này một phần là do sự vắng mặt của các tổ chức chính thức của đảng để bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là người lao động di dân và nhập cư đến vùng nầy để tìm việc làm. Khi xung đột với chủ lao động của họ xung quanh việc bồi thường thương tích công nghiệp, tiền lương, hợp đồng lao động, giờ làm việc, hoặc lợi ích xã hội, công nhân nhập cư có ít đồng minh trong công đoàn quốc doanh, đảng và chính quyền địa phương. Một liên minh nhà nước duy nhất, Liên đoàn Công đoàn Tất cả Trung Quốc (ACFTU), chính thức đại diện cho tất cả công nhân Trung Quốc và phần lớn không bảo vệ quyền lợi của người lao động nhập cư. Công đoàn quốc doanh có hiệu quả hạn chế do chính quyền địa phương có nhiệm vụ thu hút đầu tư và duy trì ổn định xã hội, các mục tiêu ngược với quyền lợi của mỗi và mọi người lao động. Khoảng cách rất lớn giữa “luật pháp trên giấy tờ” và “luật pháp trong thực tế” đã tạo ra cơ hội rất tốt cho việc huy động và tổ chức đến từ người lao động, theo nguyên tắc ở đâu có bóc lột, ở đó có đấu tranh.

Để đáp ứng nhu cầu về bảo vệ hiệu quả cho quyền lợi của công nhân nhập cư, một số nghiệp đoàn lao động phi chính thức đã nổi lên khắp Trung Quốc từ cuối những năm 1990 và 2000. Bởi vì các tổ chức này là không chính thức và trong một số trường hợp không đăng ký, số lượng chính xác rất khó phỏng đoán. Nghiên cứu của tác giả đã xác định 72 tổ chức trên khắp Trung Quốc vào năm 2011, với nhóm các tổ chức đông nhất trong vùng đồng bằng sông Châu Giang ở miền Nam Trung Quốc. Phần còn lại được phân phối trên khắp Trung Quốc, thường ở các thành phố lớn với mật độ di cư cao. Trong vùng đồng bằng sông Châu Giang, phần lớn các tổ chức lao động được thành lập bởi những người lao động di cư đã phải chịu đựng những khó khăn trong công việc ở nhà máy, đấu tranh trong nhiều trận đụng độ với giai cấp bóc lột và đảng bảo bọc chúng, và do đó đã quen thuộc với luật pháp và thủ tục xung quanh vận động quyền lao động. Họ quyết tâm để “giải tỏa các bất công trong xã hội ” bằng cách hỗ trợ các công nhân nhập cư khác trong khẳng định quyền lợi của người lao động. Một lãnh đạo nổi bật của một tổ chức giải thích điều gì đã khiến ông trở thành một nhà hoạt động lao động:

Trong khi tôi đang làm việc tại một nhà máy giày vào năm 1993 ở Đông Quan. . . Có một công nhân [trong nhà máy của tôi], đã đi tiểu vào bức tường sau nhà máy trong khi say rượu. Anh ta đã xô xát với nhân viên bảo vệ nhà máy khi họ hành hung anh ta. . . nhân viên bảo vệ báo cáo với ông chủ hãng và ông ta nói: “Công nhân nào dám tạo ra hỗn loạn trong nhà máy của tao?” Thế là bọn bảo vệ đánh đập anh công nhân cho đến chết. . . gia đình của anh ta chỉ nhận được 50.000 RMB tiền đền bù. . . [Điều này khiến tôi nhận ra rằng] công nhân không có giá trị trong mắt của đảng, chính phủ và doanh nghiệp. (Phỏng vấn bởi tác giả, 2010)

Kinh nghiệm cá nhân của người lao động di cư này đã truyền cảm hứng cho ông đứng ra xây dựng một nghiệp đoàn lao động tích cực nhất trong năm 2004. Giống như ông, nhiều người sáng lập các nghiệp đoàn khác cũng được thúc đẩy bởi nhận định là hệ thống pháp lý của Trung Quốc không bảo vệ quyền của công nhân nhập cư.

Các tổ chức lao động trong vùng đồng bằng sông Châu Giang hỗ trợ người lao động trong các tranh chấp với giai cấp bóc lột và đảng về các vấn đề bao gồm bồi thường thương tích, tiền lương, lạm dụng thể chất do quản lý nhà máy, hợp đồng lao động giả, an sinh xã hội và tạo dựng danh sách đen của công nhân bất hợp pháp. Hàng ngày, thành viên nghiệp đoàn cũng cung cấp tư vấn pháp lý miễn phí qua đường dây điện thoại nóng và tư vấn trực tiếp. Các nghiệp đoàn thường xuyên tổ chức các hội thảo về luật lao động, nơi các nhà hoạt động khuyến khích người lao động đòi hỏi các quyền hợp pháp của họ, và cung cấp trợ giúp pháp lý miển phí cho người tham dự. Ví dụ, một tổ chức với 12 nhân viên đã có thể cung cấp hơn 30.000 cá nhân với tư vấn pháp lý và hơn 200.000 công nhân với các cuốn sách huấn luyện về quyền lao động trong 9 năm. Các dịch vụ pháp lý này đáp ứng nhu cầu của người lao động khi mà nhiều người trong số họ có kiến thức hạn chế về quyền lao động, và bị nản lòng bởi quá trình giải quyết tranh chấp lao động rất gian khổ, trì hoản, thường kéo dài và chậm trễ.

Một mục tiêu song song là cung cấp các dịch vụ xã hội mà người lao động nhập cư khó có thể nhận được bằng cách khác. Tương tự như các trung tâm thiện nguyện ở Hoa Kỳ nổi lên vào những năm 1970 để phục vụ người nhập cư và những người lao động bị bóc lột, các nghiệp đoàn này thường nằm trong các cộng đồng công nhân nhập cư. Điều này cho phép họ cung cấp đào tạo kỹ năng làm việc, chăm sóc trẻ em và các hoạt động xã hội cho các thành viên của họ.

Các dịch vụ này đáp ứng nhu cầu thiết thực của người lao động cũng như các nhiệm vụ của nghiệp đoàn để tạo nên bản sắc tập thể giữa những người lao động từ các nhà máy khác nhau và những người lao động nơi bản địa. Ngoài ra, các hoạt động xã hội cung cấp một không gian cho người lao động trao đổi thông tin về các điều kiện lao động tại nơi làm việc của họ, và tăng cường quan hệ với những công nhân khác mà họ sẽ không gặp phải nếu không có nghiệp đoàn.

Cuối cùng, mục tiêu thứ ba của các nghiệp đoàn lao động này là đào tạo công nhân để trở thành nhà hoạt động nghiệp đoàn trong tương lai, nhân viên của các nghiệp đoàn tương lai, hoặc là người phổ biến kiến thức về quyền lao động. Trong mục tiêu nầy, các nghiệp đoàn tổ chức mạng lưới các tình nguyện viên công nhân trong những người mà nghiệp đoàn giúp đỡ trước đây. Những tình nguyện viên này đã hỗ trợ các nhân viên nghiệp đoàn trong tuyển dụng, hội thảo lao động, thử nghiệm mô hình, và các hoạt động văn hóa xã hội khác. Các tình nguyện viên cũng được khuyến khích tham dự phiên tòa của các công nhân khi họ kiện giai cấp bóc lột và đảng để hỗ trợ tinh thần và đoàn kết công nhân. Những người nầy hoạt động rất tích cực, nhưng nghiệp đoàn gọi họ là tình nguyện viên “chứ không phải là thành viên” để tránh sự đàn áp từ đảng và giai cấp bóc lột, vì thành viên chính thức ngụ ý rằng các công nhân đã gia nhập và hoạt động cho một công đoàn bất hợp pháp. Mạng lưới tình nguyện viên này phục vụ mục đích kép của việc mở rộng ảnh hưởng của nghiệp đoàn trong cộng đồng công nhân và đào tạo các nhà hoạt động lao động trong tương lai.

Là các tổ chức nhỏ, bán hợp pháp, các nghiệp đoàn này giữ hồ sơ không đầy đủ về nhân viên và các hoạt động của họ, và dữ liệu về hoạt động mà họ thu thập tùy vào khả năng tài chính của họ. Trong 11 nghiệp đoàn tác giả trực tiếp nghiên cứu trong vùng đồng bằng sông Châu Giang, các tổ chức nầy có từ 2 đến 12 nhân viên thường trực, phần lớn trong số đó là lao động nhập cư. Giống như nhiều tổ chức phi chính phủ ở Trung Quốc, các tổ chức này hoạt động bất hợp pháp. Trong khi một số đăng ký là doanh nghiệp với văn phòng thương mại, những nghiệp đoàn khác đã hoàn toàn chưa đăng ký. Vì vậy, mặc dù các nghiệp đoàn nầy hoạt động mạnh để bảo vệ quyền lợi của công nhân và duy trì một số nhân viên được trả lương, các tổ chức này không có tư cách pháp lý ở Trung Quốc. Ngoài việc thiếu tư cách pháp lý chính thức, một số tổ chức lao động trong vùng đồng bằng sông Châu Giang đã bị liệt vào “sổ đen” của Ủy ban Chính trị Tỉnh Quảng Đông, bị cáo là các tổ chức nầy làm bất ổn xã hội trong năm 2009.


TS.Phạm Đình Bá– đại học Toronto. Tác giả gửi bài về cho Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam từ Canada.

Bài viết thuộc Chương trình phổ biến kiến thức nghiệp đoàn lao động độc lập do Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tổ chức.

Tài liệu: Diana Fu. Mobilizing Without the Masses: Control and Contention in China,”  2018, Cambridge Studies in Contentious Politics Series; Columbia University’s Studies of the Weatherhead East Asia Institute.

Phụ lục của ban biên tập: Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam đã hỗ trợ để ra đời các nghiệp đoàn như Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam và Nghiệp đoàn giáo chức Việt Nam. Nếu bạn muốn thành lập một nghiệp đoàn lao động độc lập để cùng giúp đỡ những đồng nghiệp qua thời đại khó khăn này, xin liên lạc với Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam để được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình. 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s