Nhà văn Dạ Ngân: Tự thuật ngắn về tuổi trẻ và việc học của tôi

Tự thuật ngắn về tuổi trẻ và việc học của tôi. Thời vui ít buồn nhiều, hay đó mới là quy luật, là cuộc sống?

Gan góc và tử tế
Dạ Ngân

17155986_10210276632326631_7695889952991703061_n.jpg

Bây giờ tôi thực sự ngấm việc học lõm bõm nó thiệt hại cho thời thanh xuân của mình như thế nào. Khi ấy đầu óc tươi ròng, thời gian mênh mông, bộ nhớ còn rất nhiều ngăn trống…Giá như được yên bình, thầy giỏi, sách nhiều, những tấm bản đồ hấp dẫn, nhất là được thành thạo một ngoại ngữ… chắc mình đã khác đi nhiều.

Nhưng mà chiến tranh. Chiến tranh từ trước khi ba má cho mình có mặt trên đời. Ba theo Việt Minh, tuổi trung niên của ba hào sảng và hiểm nguy. Ba cho mình khí chất, má cho nỗi buồn, nhà nội cho khí trời, cây trái và nền giáo hóa gọi là cốt cách. Và trường làng của Vịnh Cả Mười (sau này đổi thành Ấp 6, còn trong tác phẩm văn học tôi gọi là Vịnh Mù U), ngôi trường bằng lá trên nền đất ấy cho tôi và chị Minh Nga của mình có 3 lớp rồi thì Đồng khởi. Còn nhớ cuối lớp 3 ấy, khi nghe hai cháu học thuộc lòng bài thơ (dở ẹc) “Suy tôn Ngô tổng thống”, ông nội kêu Chết chết. Và cái lớp 3 ấy kết thúc có thi cử hay không, không nhớ nữa, chỉ nhớ cảm giác bước ngoặt trong xóm ấp, cung cách, mọi người, và trong chính mình, cô bé 8 tuổi!

Lớn lên cùng với chiến tranh hùng hổ mỗi ngày, mỗi tháng. Thầy Trần Tiến từ Cần Thơ xuất hiện. Xã Vĩnh Viễn thuộc quyền kiểm soát của phía kháng chiến dựng cho thầy một ngôi trường ở quá vàm Trực Thăng một đỗi. Hình như chị em tôi và các bạn phải chờ mấy năm mới có lớp này nếu tính từ Đồng khởi. Nội và Cô Tư từng tính mua rẻo đất cất nhà lá cho bầy cháu ra Vị Thanh học nhưng ba là tù nhân chính trị Côn Đảo, làm sao yên ổn ở vùng nổi tiếng thí điểm Ấp chiến lược ấy của đối phương? Chỉ có anh duy nhất, anh Năm Trúc được gởi ra nhà cậu ruột trọ học, phải có chị Hai Mật đi theo làm nghề may kiếm tiền góp với cậu mợ chăm em.

Thầy Tiến hăm hở như chiến binh, truyền cho bọn học trò lộc ngộc tinh thần vừa học vừa rèn luyện, thích nghi, tháo vát. Đội hình chín sáu ba không, quàng khăn đỏ, giắt lá ngụy trang di chuyển đội hình, đào hào chiến đấu, vót chông, rào ấp, nuôi ong vò vẽ…Thầy luôn nhắc: Rồi các em sẽ thành quân nhân thành cán bộ thóat ly, các em phải có kỹ năng tự vệ và chiến đấu! Súng bằng bẹ dừa nước, lựu đạn là trái bình bát, xanh-tuya là dây chuối dây choại…chia tiểu đội trung đội chơi mà học học mà chơi. Thầy giỏi văn thơ nên giờ Văn học chúng tôi học bằng trí nhớ của thầy, từ tiền chiến đến kháng chiến.

Có lớp 4 nền tảng, chúng tôi vào lớp 5 (cấp II) rất nề nếp. Chưa thực sự thiếu sinh quân vì nhiều học trò chưa rời gia đình đi tập trung được. Tôi thường nhắm mắt để nhớ hai năm 1964 – 1965 ấy mình như thế nào? Chị bảy Minh Nga và các bạn của chị trong huyện như chị Sáu Ánh đã nhốm thành con gái mà tôi thì vẫn nhỏ nhất lớp, loi choi, thích nhảy qua vai một anh cao như cây tre là anh Quốc. Hình như anh Quốc quê ở ven Cần Thơ, đi vào vùng trong để khỏi bị bắt quân dịch và nhà trường gởi anh ở trọ nhà ai tôi không chú ý. Tôi chỉ chú ý chiều cao vượt trội của anh và tôi hay lăng xăng quanh anh để trêu ghẹo cái dáng lòng khòng của anh. Nhớ nền đất lép nhép của trường ở cuối Ấp 6 giáp với doi, nhớ cái cột cờ, những buổi vớt lục bình gọi là “lao động tập thể”. Và dĩ nhiên, nhớ thầy toán lý Ba Lăng và thầy văn sử địa Tư Phong. Hai thầy ở hẳn trong nhà tôi, thầy Lăng chất phác ít nói trong khi thầy Phong tía lia ướt át có hàng mi cong rợp báo hiệu con người long đong sự nghiệp lẫn tình duyên.

Phải đi học tập trung, thực sự mái trường thiếu sinh quân dù các chú quản lý không tuyên bố tính chất của nó, chỉ chính thức cái tên Trường Tây Đô. Niềm vui với chị em tôi, được đi khỏi nhà vườn, tự do, tha hồ. Nhưng với người lớn là những tiếng thở dài trong đêm. Ba mất, ông nội mất, chị Ba và anh Năm đã được đem vô U Minh, đến chị Bảy và tôi đi nữa, gia đình không lo trống vắng mà lo bom đạn bời bời, sống chết sao đây? Nhưng đổ về vịnh tôi, Ấp 6 của tôi bao nhiêu là bộ đội Tỉnh bộ đội Miền, cán bộ Tỉnh và Khu, dập dìu. Không có con đường khác, giới tuyến là dòng sông, bên này là đường hành lang của Khu 9 và các tỉnh trên, bờ bắc dẫn ra tiểu khu Chương Thiện bàn đạp để đối phương tác chiến với cả vùng Rạch Giá , U Minh.

Xuất hiện các thầy cô Hữu Nghiệp, Sáu Hiền, Tư Lan, Mười Tú… toàn các cựu học sinh của Cần Thơ mà chúng tôi gọi chung là dân ở thành vô. Thầy Hữu Nghiệp là em ruột của thầy Tung, thầy lớp 3 trường làng của chị em tôi, hai thầy gốc Cao Lãnh nên được cô Tư tôi đặc biệt quý mến. (Bỗng dưng nhớ thầy Tung quá, thầy là con rể của dân vịnh, một bầy con, nhờ tư chất và tử tế mà con thầy đều thành đạt nổi bật, có người còn là tiến sĩ ở nước ngoài. Tôi ơn thầy mấy giờ Pháp văn lớp 3, nếu không có bước ngoặt cuộc chiến, chắc chắn lứa chúng tôi không bị mù tiếng Pháp).

Tôi nhớ nhất đoạn nào trong thời lớp 6 và lớp 7 ấy? Có lẽ nhớ cái trường trơ ra bên một vàm kênh ở xã Xà Phiên. Lần đầu chị em tôi sống xa nhà, đất xì phèn, nước lợ, thức ăn mỗi ngày là chao hoặc dừa nước kho kèm rau choại luộc. Tưởng phát điên vì thiếu thốn, cực nhọc và những cái công sự hình chữ nhật ven biền lá. Nhớ một lão nông trưởng Ban liên lạc nhà trường hay cho chúng tôi mượn chiếc tam bản cuối tuần về lại sông Nước Đục (qua ngả Cái Nhào để một số chị lên nhà ở đó). Chúng tôi ngồi vắt vẻo trong đêm từ đó ôm hết doi ông Đơn (em ruột ông nội tôi) rồi mới về Ấp nhà. Không đứa nào biết bơi mà dầm chèo hì hục, khi ấy tôi đã cảm nhận được sức nặng của nỗi niềm vườn nhà, người thân, bến nước, quê hương …trong những mét sông hoang tịch ấy. Cả nhà vui đón, má làm cho rất nhiều thứ gói đi, chiều hôm sau lại dầm chèo hết vịnh hết doi để vô Cái Nhào đón mấy chị bạn.

Các thầy các cô như bạn bè, như đồng đội và sự yếu đuối thị thành của họ như chị gái để các anh Quốc, anh Đẳng…to cao che chở khi có giặc càn. Trường phơi ra dưới bom đạn, phải dẹp. Chúng tôi dạt về xã nhà, Ấp 6 dù sao vẫn có nhiều màu xanh của cây trái nước ngọt để ẩn nấp. Tôi nhớ chuyến đi bộ của hai chị em chúng tôi từ Xà Phiên về nhà, cầu không còn tay vịn, mùi hố bom tưa tải đất bùn, mùi cây lá dập bầm, đúng là mùi của tàn sát và đổ nát. Qua một giang đồng trong đêm mông lung, nhưng dù gì hàng sao của nội trồng ở ven vườn vẫn sừng sững kia, thôi thúc. Từ đó lớp 7 chúng tôi dạt ở cụm vườn này sang cụm vườn khác trong ấp nhà, những thiếu nữ và thiếu niên, có người đã là thanh niên biết chia sẻ từng bữa ăn, giờ học với tấm ván viết ở trên đùi và, nói với nhau mọi thứ, chung một mối quan tâm là đi đâu, cơ quan đơn vị nào sau giai đoạn cấp II này.

Rồi cũng phải kết thúc lớp 7. Học theo kiểu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, lớp 7 xong cấp II. Thoát ly hết, từ biệt gia đình, như những mao mạch hòa vào dòng chủ lưu. Anh Quốc anh Đẳng đi bộ đội, chưa bao lâu có tin anh Đẳng hy sinh, đó là lần đầu tôi hứng chịu một cái tin theo tôi là quá ghê gớm ấy, một người bạn học suốt mấy năm trời. Chị Sáu Ánh, cô bạn Thủy rất giỏi toán luôn ngồi cạnh tôi cũng về Ban Tuyên huấn tỉnh. Chị bảy Minh Nga và tôi đi sau một chút nhưng cùng đi, đường dây dẫn qua lộ ở đoạn Vĩnh Tường, chao ơi lần đầu biết sợ và chạy như trối chết. Khi ấy tôi còn chưa thành thiếu nữ. Cô bạn Thủy hy sinh trong một trận bom, riêng anh Quốc bỗng dưng rời quân ngũ về tiểu ban Báo chí chỗ tôi. Nhưng trai tráng, anh phải đi viết phóng sự chiến trường. Lần đó, sau Mậu Thân, anh theo một đơn vị bộ đội lên Châu Thành – Cần Thơ, trước khi đi, anh yêu cầu tôi hát tiễn anh bài Vàm Cỏ Đông. Chỉ có hai anh em, tôi vẫn đứng hát trang trọng, linh cảm một cuộc chia xa mãi mãi. Quả nhiên anh đi không về nữa, vậy là toàn cục, kể cả cái chết của chú Tư Dân, tiểu ban Báo chí chỗ tôi có cả thảy 9 người thì đã 5 người mất.

Các thầy cô của tôi, em gái Minh Khai con một của cô Tư tôi và sau đó đội ngũ thầy cô ở thành theo kháng chiến cứ dài ra cùng đi cắm ở khắp các vùng trong và vùng xôi đậu của tỉnh đem chữ đến cho con em nông dân. Họ vốn dĩ chân yếu tay mềm nhưng vẫn không ai bỏ cuộc suốt những tháng ngày chiến tranh ác liệt đỉnh điểm. Rất may là chỉ có mỗi mình thầy Trần Tiến hy sinh. Sau hòa bình, không thầy cô nào làm quan to, có người còn muốn ở ẩn, có lẽ do phẩm chất tránh bon chen lợi quyền của họ. Ai cũng chật vật nhưng rồi ai cũng vượt qua và an nhiên. Có những người không may vì bệnh tật mà qua đời sớm như thầy Hữu Nghiệp, thầy Tư Phong, đời thật ngắn và bất công với họ. Gẫm lại, càng nhiều tuổi tôi càng hay suy ngẫm, thời thiếu niên ấy tôi nhận được những gì? Là chữ nghĩa dù học không đủ và một điều chắc chắn, ấy là sự gan góc và tử tế khác thường mà các thầy cô đã sống và thấm vào chúng tôi.

Nhiều bạn văn chương nước ngoài thú vị khi biết tôi từng là nhà báo chiến khu đã đi trọn con đường trong đội quân kháng chiến. Họ hay hỏi tôi học ở đâu, Văn khoa Sài Gòn ư? Tôi kể việc học ở ngôi trường thực chất là thiếu sinh quân, sau đó bổ túc văn hóa hết cấp III và học đại học ở Hà Nội. Họ có vẻ chưa tin. Nhưng rồi họ tin, vì nhà văn nào cũng coi việc tự học là quan trọng nhất. Họ bảo sao cơ quan nhiều người chết mà tôi không việc gì, tôi trả lời đó là số phận, đúng là số phận.

Như số phận đã vẽ cho tôi con đường trở thành nhà văn, vậy thôi.

Dạ Ngân/fb

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s