Chúng ta có chuẩn bị cho một quá trình chuyển đổi chế độ ở Trung Quốc không?

LTS: Một bài viết công phu của tiến sĩ Phạm Đình Bá- chủ nhiệm ban cải cách chính sách của Nghiệp đoàn sinh viên. Ts.Phạm Đình Bá- đại học Toronto- từ Canada gửi bài về Việt Nam sáng nay.

CHINA_-_4_Generations_CCP.jpg

Tập Cận Bình đến nay đã thay thế hệ thống phân chia quyền lực thời Đặng Tiểu Bình ở tầng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với sự thống trị do y là người độc quyền. Những người tin rằng việc cải cách kinh tế chưa hoàn thành của Trung Quốc đòi hỏi một sự tập trung quyền lực vào lãnh đạo để có quyền quyết đoán trong các chính sách lớn có thể hoan nghênh sự độc quyền của Tập Cận Bình. Nhưng những người khác có thể chỉ ra rằng sự tập trung quyền lực vào một cá nhân tạo nên một hệ thống chính trị có xu hướng không ổn định, và độc quyền có thể dẫn đên những sai lầm thảm khốc. Đây là trường hợp dưới sự cai trị toàn quyền của Mao Trạch Đông (1949–76).

Sự tập trung quyền hành của Tập Cận Bình đã gây ra những  thảo luận và dự đoán về tương lai của Đảng Cộng sản và đất nước Trung Quốc.(1) Đương nhiên, chúng ta phải thận trọng trong việc dự báo số phận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì tương lai vốn dĩ không thể đoán trước được. Tuy nhiên, trong nỗ lực để xác định khả năng chuyển đổi chế độ ở Trung Quốc trong tương lai không xa (ví dụ trước năm 2030), chúng ta có thể thảo luận và dự đoán việc nầy để chuẩn bị cho những hệ lụy liên quan đến vấn đề ở Việt Nam. Điều nầy có thể quan trọng cho các thế hệ kế tiếp, khi mà sinh viên hôm nay sẽ trở thành các nhà lãnh đạo và công dân trong một xã hội mới trong tương lai. Tuy nhiên, các dự đoán về chuyển đổi của Đảng Cộng sản Trung Quốc cần phải xây dựng trên những hiểu biết tích lũy và bài học lịch sử của những chuyển tiếp trong quá khứ từ độc tài sang một thể chế nhân bản hơn. Chúng tôi trình bày dưới đây các dữ kiện liên hệ và dự đoán, bao gồm giai đoạn phát triển kinh tế dẫn đến chuyển tiếp chính trị (phần 1), sự suy yếu của chế độ độc tài khi kinh tế phát triển (phần 2), và các mô hình của chuyển đổi (phần 3).

Phần 1. Giai đoạn phát triển kinh tế dẫn đến chuyển tiếp chính trị

Chúng ta có thể bắt đầu xem xét việc chuyển đổi chế độ ở Trung Quốc bằng cách áp dụng ý tưởng về “vùng chuyển tiếp”. Samuel P. Huntington, trong cuốn “The Third Wave” (“Làn sóng thứ ba”), ghi nhận một giai đoạn phát triển kinh tế đặc biệt trong đó dân chủ hóa có nhiều khả năng xảy ra nhất.(2) Sự tương quan giữa sự giàu có và dân chủ ngụ ý rằng sự chuyển đổi sang nền dân chủ có thể xảy ra chủ yếu ở các nước mà mức độ phát triển kinh tế đạt đến mức trung bình (upper middle-income countries), khi công dân có tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người trong khoảng từ $3,956 đến $12,235 (đồng tiền Mỹ vào 2018).(3) Ở các nước nghèo, dân chủ hóa khó xảy ra; ở các nước giàu dân chủ hóa đã xảy ra rồi. Ở giữa hai nền kinh tế nghèo và giàu có một giai đoạn chuyển tiếp chính trị khi mà phát triển kinh tế và cải thiện đời sống tạo nên sức năng động từ đại đa số công dân, thức tỉnh nhu cầu cho một chế độ nhân bản mà chế độ độc tài cầm quyền là cản trở cần bải bỏ. Các quốc gia trong tầng lớp kinh tế chuyển tiếp đó có nhiều khả năng chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ. Hầu hết các nước chuyển biến đến dân chủ sẽ ở trong giai đoạn kinh tế chuyển tiếp.

Triển vọng bấp bênh của các chế độ độc tài ở các quốc gia có thu nhập trên trung bình như Trung Quốc có thể được nhìn thấy trong hai bộ dữ liệu: 1) thu nhập bình quân đầu người trong năm chuyển đổi chế độ (xem Bảng 1), và 2) hầu như có rất ít các chế độ độc tài ở các quốc gia giàu có (ngoại trừ các quốc gia làm giàu bởi dầu lửa và vẫn theo chế độ độc tài).

Bảng 1 cho thấy 26 nước, sắp hạng theo thu nhập bình quân đầu người từ cao đến thấp, đã có sự chuyển đổi chính trị từ một chế độ độc tài sang một chế độ nhân bản.(1) Ví dụ Cộng hòa Séc từ bỏ độc tài Cộng Sản vào năm 1990, lúc mà nền kinh tế đạt được bình quân đầu người là $22.118. Các nước ở bên trái trong Bảng 1 chuyển đổi khi các nước nầy đạt được mức sống tốt, thu nhập bình quân từ khoảng $10.000 (Ai Cập), đến khoảng $22.000 (Cộng hòa Séc). Trung Quốc vẫn còn độc đảng, nhưng đã đạt được nền kinh tế tạm phát triển, với thu nhập bình quân là $12.500.  Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc cao hơn gần 30% so với mức trung bình ($9.768) của nhóm các nước đã chuyển đổi hệ thống chính trị khi các nước nầy đạt được thu nhập bình quân trung bình. Điều nầy cho thấy Trung Quốc có nhiều xác suất tiến vào chuyển tiếp thể chế chính trị. Nói cách khác, Trung Quốc đã đạt đến phát triển kinh tế cao hơn các nước đã bước vào của vùng chuyển tiếp chính trị, và vì vậy Trung Quốc có thể có thay đổi chính trị.

Bảng 1: Thu nhập bình quân đầu người vào năm chuyển đổi từ chế độ độc tài sang chế độ nhân bản hơn

Nước Năm chuyển đổi (1) Thu nhập bình quân đầu người (2) Nước Năm chuyển đổi (1) Thu nhập bình quân đầu người (2)
Cộng hòa Séc 1990 $22.118 Bồ Đào Nha 1974 $9.643
Nga (3) 1991 $18.128 Ba Lan 1989 $9.124
Slovakia 1990 $17.096 Nam Triều Tiên 1987 $9.001
Slovenia 1991 $16.799 Nam Phi 1990 $8.366
Đài Loan 1986 $14.686 Turkey 1983 $8.161
Tây Ban Nha 1975 $13.132 Serbia 1991 $7.152
Hungary 1989 $12.894 Chile 1988 $7.133
Trung Quốc Chưa đổi $12.472 Rumani 1989 $7.094
Hy Lạp 1975 $12.365 Thái Lan 1992 $5.997
Bungari 1989 $11.995 Braxin 1985 $5.546
Croatia 1991 $11.275 Argentina 1983 $4.737
Mexico 1994 $10.892 Indonesia 1998 $4.314
Tunisia 2011 $10.176 Bosnia 1991 $1.288
Ai Cập 2011 $9.892 Trung bình (4) $9.768

Chú thích: (1) ước tính dựa trên sự phán xét lịch sử và học thuật. (2) thu nhập bình quân đầu người (năm 2011, đồng tiền Mỹ), điều chỉnh cho các khác biệt về đời sống tương đối giữa các quốc gia và thời gian khác nhau. (3) Nga có thể vẫn coi như là còn độc tài hiện nay. (4) Trung bính không tính Trung Quốc.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể quản lý, ngược hẳn các tiền lệ trong Bảng 1, để di chuyển ra khỏi vùng chuyển tiếp chính trị trong khi duy trì chế độ độc đảng? Ngoại trừ các nước giàu bởi dầu hỏa, rất ít các thể chế độc tài mà kinh tế giàu hơn Trung Hoa có thể duy trì chế độ độc tài. Các dữ liệu lịch sử chứng minh sự việc nầy. Bảng 2 cho thấy rằng trong số 36 quốc gia có thu nhập đầu người trung bình trong năm 2014, chỉ có 5 (14%) quốc gia với thể chế độc tài, không bảo đảm các quyền nhân bản cho dân. Nói một cách khác, xác suất mà Trung Quốc sẽ chuyển đổi thể chế chính trị liên hệ đến cải thiện kinh tế và đời sống có thể ước đoàn là khá cao (Bảng 2).

Bảng 2. Các nước có thu nhập bình quân trung bình và thể chế chính trị (1)

Số nước với thu nhập bình Thể chế chính trị
   quân trung bình Tự do Tự do phần nào Độc tài Khác*
36 12 (33%) 12 (33%) 5 (14%) 7 (19%)

Chú thích: Tác giả bài (1) không phân định rõ về thể chế chính trị của 7 nước nầy.

Chỉ có 19 quốc gia với thể chế độc tài,(1) mà có thu nhập bình quân đầu người cao hơn so với Trung Quốc vào năm 2014, 16 quốc gia nầy giàu dựa vào dầu lửa, chỉ có ba quốc gia là không giàu bởi tài nguyên dầu lửa— Singapore, Belarus và Thái Lan. Tại sao chỉ có một số ít các quốc gia giàu về kinh tế với chế độ chính trị độc tài? Có hai cách giải thích:

1) Hầu hết các chế độ độc tài, do nhu cầu kinh tế qua thời gian chuyển tiếp, bị ép buộc phải đổi thể chế chính trị từ độc tài sang thể chế có nhân bản hơn do nhu cầu kinh tế và cải thiện đời sống (các trường hợp ngoại lệ của lý thuyết khu vực chuyển tiếp là các nước giàu có bởi tài nguyên dầu lửa); và

2) các chế độ độc tài mà không thay đổi chính trị để đặt quyền lợi của đại đa số lên trên quyền lợi của thiểu số bị kẹt lại trong trong cái bẫy “thu nhập trung bình triền miên”, không tăng trưởng lên “thu nhập trung bình đầu người cao” được.

Hiện tượng cái bẫy “thu nhập trung bình triền miên” là phổ biến ở các nước đang phát triển, do sự trì trệ trong phát triển kinh tế bởi các yếu tố bao gồm: i) các cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội và xã hội dân sự không phát triển đúng mức, ii) bất bình đẳng cao và iii) đánh mất lợi thế để duy trì tiến bộ kinh tế và xã hội sau khi các nước nầy đạt được trạng thái kinh tế với thu nhập trung bình. Bởi vì các thể chế độc tài thường xử dụng các công cụ bóc lột bất chấp quyền lợi của đại đa số công dân, các thể chế nầy dể rơi vào cái bẫy “thu nhập trung bình triền miên”. Nếu Trung Quốc rơi vào cái bẫy nầy, Trung Quốc sẽ giữ thể chế độc đảng cho đến khi kinh tế tăng lên qua mức thu nhập trung bình. Xác suất của tình trạng nầy là đánh giá được, nhưng chúng ta có thể dùng mức thu nhập bình quân và phát triển kinh tế để lượng định sự sống còn của đảng Cộng Sản Trung Quốc, cùng với các dấu hiệu khởi đầu cho sự suy thoái của chế độ, bàn bên dưới đây.

Bảng 3 cho thấy, từ năm 1960 đến 2008, chỉ có 13 nước chuyển từ thu nhập trung bình sang thu nhập cao. Trong số này, bốn nước (31%) có nền dân chủ cao (Ái Nhĩ Lan, Nhật Bản, Do Thái và Mauritius); ba nước (23%) đã có khuynh hướng tôn trộng pháp luật- Hồng Kông (một thuộc địa cũ của Anh), Puerto Rico (một lãnh thổ của Hoa Kỳ), và Singapore (một chế độ bán tự trị); và năm nước (39%) thực hiện chuyển đổi từ cai trị độc đoán sang dân chủ trước khi đạt được tình trạng thu nhập cao (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Hàn Quốc và Đài Loan). Trong Bảng 3, chỉ có mười hai quốc gia chuyển từ thu nhập trung bình sang tình trạng thu nhập cao (không bao gồm một nước giàu từ dầu); tất cả các nước này đều trải qua quá trình chuyển đổi chế độ từ độc tài sang các chế độ nhân bản hơn. Nếu kinh tế Trung Quốc tiếp tục phát triển sang thu nhập cao, xác suất của chuyển đổi chính trị sẽ gia tăng.

Bảng 3: Nước có thu nhập bình quân trung bình chuyển đổi sang nước có thu nhập bình quân cao*

Thể chế chính trị
Số nước thay từ thu nhập trung bình sang thu nhập cao Dân chủ cao Tuân thủ luật lệ  Dân chủ trước khi có thu nhập cao Khác**
13 4 (31%) 3 (23%) 5 (39%) 1 (8%)

Chú thichs: * 2013 World Bank. ** Nước duy nhất đã thóa khỏi cái bẫy “thu nhập trung bình triền miên” mà không thay đổi chế độ độc tài là Equatorial Guinea, một nước làm giàu từ dầu hỏa.

Làm sao chúng ta dùng các dữ liệu nầy để dự đoán những thay đổi có thể xảy ra ở Trung Quốc? Kỷ lục về phát triển và lịch sử chuyển tiếp chính trị và kinh tế ngụ ý rằng nếu Trung Quốc muốn đạt được tình trạng thu nhập cao, Trung Quốc sẽ phải trải qua một quá trình chuyển đổi chính trị, từ độc đảng sang một thể chế nhân bản. Vì Trung Quốc là một nước có thu nhập trung bình hiện nay, áp lực để đạt được thu nhập cao hơn cho đại đa số công dân ngày càng tăng, điều này phù hợp với xu hướng thay đổi thể chế chính trị để đáp ứng cho nhu cầu phát triển.

Phần 2. Sự suy yếu của chế độ độc tài

Trong hầu hết các trường hợp, sự sụp đổ của các chế độ độc tài xảy ra trong hai giai đoạn – một thời gian mà chế độ độc tài phân rã trên mạng sâu rộng, sau đó là một sự cố dẫn đến sụp đổ nhanh chóng. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Liên Xô cũ và Đông Âu minh họa quá trình hai giai đoạn này.(3) Trong lịch sử, các sự cố sụp đổ nhanh chóng của chế độ độc tài đã nhận được sự chú ý rất lớn, nhưng những nguyên nhân và động lực riêng biệt của thời kỳ phân rã sâu rộng vẫn chưa được bàn luận đầy đủ.

Bốn dấu hiệu chính của sự phân rã sâu rộng trong chế độ độc tài là: i) sự tan rã lòng tin vào ý thức hệ mà thể chế độc tài dùng ý thức hệ nầy để tổ chức các công cụ bóc lột, ii) kinh tế không phát triển đúng mức liên quan đến cấu trúc của chế độ độc tài, iii) tham nhũng lan tràn trong xã hội mà đại đa số phải gánh chịu hậu quả xấu của tham nhũng trong khi lãnh đạo vơ vét của chung, và iv) chế độ độc tài đặt ưu tiên của sự sinh tồn của chế độ là tối thượng, bất chấp sự chà đạp lên các quyền tối thiểu của đại đa số. Những triệu chứng này không nhất thiết xuất hiện đồng thời. Với thời gian tất cả sự phân rã có thể trở nên hiển nhiên cho đại đa số, nhất là khi sự phân rã tiến đến mức độ cao và lan tràn trong xã hội.

Chế độ độc tài càng nắm quyền càng lâu, thì sự phân rã càng thêm sâu sắc. So với các chế độ độc tài cá nhân hay quân phiệt, các chế độ độc đảng có các công cụ tinh vi hơn và năng lực lớn hơn để duy trì quyền lực, và các chế độ độc đảng thường có thể giữ quyền lâu hơn các chế độ độc tài cá nhân hay quân phiệt. Tuy nhiên, các chế độ độc tài độc đảng nầy không phải là bất tử. Các hồ sơ lịch sử cho thấy rằng chế độ độc đảng bền vững nhất cho đến nay, Liên Xô, kéo dài chỉ trong 74 năm. Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền cho đến năm 2030, nó sẽ nắm quyền lực trong 81 năm, một thành tựu chưa từng có cho một chế độ độc tài. Hiện nay, các dấu hiệu của sự phân rã có thể nhìn thấy ở Trung Quốc, bao gồm tham nhũng lan tràn, tranh giành quyền lực dưới dạng thái thanh trừng tham nhũng, suy đồi ý thức hệ thể hiện qua các chỉnh đốn học tập chính trị do Tập Cận Bình đề xuất, và sự suy giảm niềm tin của đại đa số vào khả năng lãnh đạo kinh tế của đảng Cộng Sản Trung Quốc.(1) Mặc dù không thể biết được một chế độ phân rã sẽ tồn tại bao lâu với sự thối nát bên trong của nó, nhưng động lực của sự phân rã chế độ và hậu quả chính trị của sự phân rã sâu rộng và lan tràn trên xã hội cũng không khó đoán lắm.

Trong khi sự phân rã chế độ chủ yếu là do các yếu tố về cấu trúc và thể chế chính trị, sự sụp đổ của chế độ độc tài hầu như luôn là sản phẩm của một sự thay đổi tâm lý đột ngột sau những cú sốc không lường trước được, như một cuộc tổng biểu tình dẫn đến cuộc cách mạng quốc gia ở Tunisia năm 2010, thất bại trong cuộc phiêu lưu quân sự ở nước ngoài ở Argentina năm 1982, thất bại trong việc cướp giựt một cuộc bầu cử dân chủ ở Phi Luật Tân năm 1986, hoặc một sự sụp đổ kinh tế ở Nam Dương vào năm 1998. Mặc dù các sự sụp đổ của chế độ độc tài không thể hoàn toàn dự đoán được, nhưng các sự sụp đổ nầy thường xảy ra vào lúc chế độ đã vào giai đoạn cuối của sự phân rã toàn diện, lúc mà chế độ không đủ khả năng để đối phó với sự thay đổi tâm lý từ đại đa số, và không thể giử được quyền lực trước các cú sốc lớn.

Phần 3. Các mô hình của chuyển đổi chính trị

Phương thức chuyển đổi từ độc tài sang nhân bản và tự do bao gồm các mô hình: cải cách, cách mạng và hỗn hợp giửa cải cách và cách mạng.(4) Mô hình nào sẽ xảy ra phụ thuộc vào sự cân bằng tương đối và đối lực giữa quyền lực của phe thiểu số cầm quyền và phe đối lập. Khi phe thiểu số cầm quyền mạnh hơn phe đối lập trong suốt quá trình chuyển đổi, cải cách sẽ có xác suất hiện thực cao. Nếu phe đối lập mạnh hơn phe thiểu số cầm quyền, cách mạng có thể xảy ra. Khi các phe thiểu số cầm quyền ban đầu mạnh hơn phe đối lập nhưng trở nên yếu hơn trong quá trình cải cách, kết hợp cải cách / cách mạng có thể xảy ra.

Cải cách – Chuyển đổi thông qua cải cách dường như là con đường tiến đến tự do dân chủ ít hổn loạn nhất vì nó hứa hẹn sự ổn định và không bạo động. Tuy nhiên, nó ít có khả năng xảy ra nhất, bởi vì nếu các nhà cầm quyền độc đoán đủ mạnh để quản lý một quá trình chuyển đổi dựa trên cải cách, thường các nhà cầm quyền cảm thấy họ đủ mạnh để duy trì quyền lực, và do đó họ có ít động lực để cải cách sâu rộng. Chính vì vậy, họ thường bỏ lỡ cơ hội cho cải cách một các không bạo động, và vào thời điểm hoàn cảnh của họ trở nên kém thuận lợi hơn, họ không còn có vốn chính trị hay uy tín để quản lý một quá trình cải cách qua chuyển đổi ổn định.

Trong thời gian sắp tới, có ít yếu tố thuận lợi để Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể thực hiện các chuyển đổi hòa bình. Tiến trình kế vị trong Đảng Cộng sản Trung Quốc gần đây nhất trao quyền lực cho Tập Cận Bình, một người độc tài với chủ định duy trì quyền lực cá nhân và đảng bằng mọi giá. Thay vì khuynh hướng cải cách dân chủ, Tập Cận Bình đã kiên quyết tuyên bố rằng ông sẽ tìm cách duy trì sự cai trị độc đoán của Đảng Cộng sản Trung Quốc và đã phát động cuộc đàn áp bất đồng chính kiến ​​và đàn áp các tổ chức xã hội dân sự với một mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy từ thời đại hậu Mao. Ngoại trừ một sự đảo ngược đột ngột và bất ngờ, cửa sổ cải cách chính trị dưới thời Tập Cận Bình dường như sắp kết thúc.

Cách mạng – Sự chuyển đổi từ cai trị độc đoán thông qua cuộc cách mạng bắt đầu với việc lật đổ chế độ độc tài, hòa bình hoặc bạo lực, và kết thúc bằng sự thay thế bằng chế độ mới, đôi khi có tự do và dân chủ. Có một vài tình huống có thể dẫn đến sự chuyển đổi này. Nếu tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với Đài Loan hoặc tranh chấp hàng hải của họ với Nhật Bản, Philippines và Việt Nam dẫn đến xung đột quân sự với Hoa Kỳ, và Trung Quốc thua trong một cuộc xung đột như vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc có lẻ không tồn vong. Tuy nhiên, xác suất của một sự kiện như vậy là thấp, bởi vì thiệt hại trong một cuộc xung đột giữa hai cường quốc hạt nhân là quá cao cho cả hai phe. Một dạng xung đột có nhiều xác suất xảy ra là một hình thức mới của một cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Trung Hoa (với các nước thành viên tham gia vào cuộc tranh chấp nầy). Tuy nhiên, chi phí của cuộc xung đột chiến lược như vậy giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, bao gồm cả việc cắt giảm không thể tránh khỏi mối quan hệ thương mại của hai nước, có thể sẽ đẩy nhanh sự suy giảm quyền lực và chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hỗn hợp cải cách / cách mạng – Thông thường, quá trình này bắt đầu với cải cách giới hạn do chế độ cũ bắt đầu, nhưng kết thúc bằng việc thoát khỏi quyền lực của chế độ cũ một cách không tự nguyện. Hiện tượng này lần đầu tiên được quan sát bởi Alexis de Tocqueville, ông quan sát rằng “thời điểm nguy hiểm nhất đối với một chính phủ xấu là một khi nó tìm cách sửa chữa đường lối.” Nghịch lý Tocquevillean rất đúng với chương trình cải cách giữa thập niên 1980 của nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev. Ông bắt đầu các cải cách chính trị hạn chế, được gọi là perestroika, gây ra các phong trào độc lập dân tộc và cuối cùng là một cuộc cách mạng dân chủ trong đế quốc Liên Xô.

Trong trường hợp của Trung Quốc, xác suất và cơ hội hình thành của hỗn hợp cải cách / cách mạng có thể gia tăng trong thời gian tới (ví dụ như trước 2030). Đến lúc đó, Trung Quốc sẽ trải qua khoảng một thập 12 năm nữa khi quốc gia nầy ở trong giai đoạn chuyển đổi (phần 1), và sự phân rã của chế độ có thể sẽ trở nên trầm trọng (phần 2). Nếu Tập Cận Bình bước xuống vào cuối nhiệm kỳ thứ hai của mình, người thừa kế của ông sẽ chịu áp lực to lớn để đảo ngược vận mệnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lúc ấy, hai chiến lược sinh tồn của Đảng Cộng sản Trung Quốc – chủ nghĩa tư bản tập trung và độc quyền đảng trị- sẽ trở nên rõ ràng cho mọi người là không hữu hiệu. Người thừa kế của Xi sẽ phải tìm cách khác để lấy lại tính hợp pháp của chế độ.

Trong nghiên cứu “Triển vọng chuyển đổi dân chủ ở Trung Quốc”, Guo và Stradiotto xem xét tương quan giữa điểm số chính trị Polity (một cách đo lường các thể chế chính trị từ điểm số -10 cho chế độ độc tài lên đến điểm số 10 cho chế độ dân chủ hoàn toàn) hệ thống chính phủ.(5) Các tác giả đã mô phỏng các cách chuyển đổi để dự đoán thể chế chính trị mới hình thành. Nếu Trung Quốc chuyển sang nền dân chủ thông qua cải cách, trong đó Đảng Cộng Sản Trung Quốc nắm giữ lợi thế trong gia đoạn chuyển đổi, thể chế chính trị mới sẽ có một điểm số Polity trung bình trong 10 năm khoảng 6 điểm, giả định là có tổng thống trong hệ thống chính phủ, tốc độ kinh tế tăng trưởng khoảng 8% và thu nhập bình quân đầu người là 13.400 đô la. Ngoài ra, nếu sự chuyển đổi xảy ra trong hòa bình với phe đối lập nắm giữ lợi thế về quản lý cách thay đổi, điểm số Polity trung bình 10 năm tăng từ khoảng 6 điểm đến 9 điểm, gia tăng là 50%, có thể dẫn đến mức dân chủ cao hơn vời nhiều tiềm năng nhân bản cho công dân nhiều hơn.

Chúng ta có chuẩn bị cho thay đổi ở Trung Quốc không? Bằng chứng từ Trung Quốc đương đại và những hiểu biết từ lịch sử và khoa học xã hội cho thấy khả năng chuyển đổi từ chủ nghĩa độc đảng ở Trung Quốc trong trong thập kỷ tới là lớn hơn so với nhiều người thường suy nghĩ. Đối với đảng cộng sản Việt Nam, quá trình chuyển đổi chế độ ở Trung Quốc có thể là một cú sốc sâu sắc có thể hủy hoại ý thức hệ và tính hợp pháp của đảng. Xã hội dân sự ở Việt Nam và thế hệ trẻ hôm nay sẽ chuẩn bị gì cho quá trình chuyển đổi như vậy? Nghiệp Đoàn sinh viên có đủ tầm nhìn xa và ước mơ cho một tương lai mới không? Tất cả các điều này rất quan trọng vì sự sụp đổ của một chế độ độc tài không phải lúc nào cũng dẫn đến việc thành lập một xã hội tự do và dân chủ.

TS.Phạm Đình Bá

Liên lạc tác giả: ba.pham@theta.utoronto.ca

Tài liệu

  1. Minxin Pei. Transition in China?: More Likely than You Think. Journal of Democracy, 27 (4), 2016, pp. 5-19.
  2. Samuel P. Huntington. The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century. Norman: University of Oklahoma Press, 1991: 60.
  3. The world’s Middle Income Countries. World Bank. http://www.worldbank.org/en/country/mic/overview.
  4. 4. Andrea Kendall-Taylor and Erica Frantz, “How Autocracies Fall,” Washington Quarterly 37 (January 2014): 35–47.
  5. 5. Guo, S., Stradiotto, G.A. Prospects for Democratic Transition in China. Journal of Chinese Political Science, 23 (1), 2018, pp. 47-61.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s