GS Anh Thơ Andres: Câu truyện cổ tích Tấm Cám của tôi

38798357_1844895338927218_8059079095230660608_n.jpg
GS.Anh Thơ Andres- cố vấn học thuật của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam- ảnh chụp thời trẻ

Câu truyện cổ tích của tôi bắt đầu đúng vào ngày lễ tình nhân Valentine khi tôi gặp Kurt tại bãi biển Vũng Tàu, cách đây ba mươi năm. Một năm sa đó, nhân ngày sinh nhật của tôi anh đã qua Vietnam và cầu hôn tôi. Chúng tôi được hạnh phúc bên nhau trong ba (3) năm trước khi anh ra đi mãi mãi.

Sau đây là một vài đoạn trích từ nhật kí của tôi:

Tôi gặp Kurt vào ngày làm việc cuối cùng tại Vũng Tàu trong ngày Lễ tình nhân. Ngay sau đó, tôi quay về Sài Gòn, và bắt đầu công việc mới tại CLB Thủy Thủ, nơi những con tàu quốc tế cập bến. Đây cũng là một cơ quan có tiếng giành riêng cho những người có được sự bảo lãnh mới được chọn bởi nó liên hệ với những người nước ngoài, nhưng là một dạng khác trong việc trước của tôi là hướng dẫn phiên dịch.

Tôi sống khá kín tiếng vì tôi đã quyết định tìm đường ra nước ngoài. Trong công việc này, tôi có trao đổi với rất nhiều thuyền trưởng từ nhiều quốc gia và quốc tịch khác nhau: Hy Lạp, Philippin, Indo, Miến điện, Ba Lan, Đông Đức….

Trong quãng thời gian đó, tôi khám phá ra thế giới ngầm của những cô gái điếm, thuốc phiện, buôn bán chợ đen bất hợp pháp, buôn lậu và tương tự như vậy. Tôi đã có những trãi nghiệm rất thú vị khi tương tác với các thủy thủ và thế giới của họ.”

******

Cuộc gặp gỡ của tôi với Kurt đã thay đổi định mệnh của cuộc đời tôi. Vào lúc ấy, tôi không bao giờ mơ đến chuyện lấy chồng. Trong lá số tử vi của tôi, vị trí của “hôn nhân” nằm dưới sao “phá Quân” có nghĩa bất kì ai là chồng tôi đều sẽ gặp chuyện chẳng lành. Bởi vậy, cho dù tương đối “có giá’’ giữa những khách du lịch, tôi chấp nhận số phận cô quả của mình và chuẩn bị sẽ là một cô gái già xấu số. Thật vậy, cho dù trong rất nhiều dịp tôi đã nhận ra những lời tán tỉnh từ bọn đàn ông con trai trong các đoàn hướng dẫn, phần lớn từ các nước Liên xô và Đông Âu, và một phần nhỏ từ các nước Pháp, Mỹ, Nhật, tôi không bao giờ để bản thân mình bị ảnh hưởng bởi những lời tán tỉnh ấy. Với tư thế là một cô gái trẻ đẹp, duyên dáng, và được lòng cả các xếp lớn và nhỏ về trình độ chuyên môn và tính cách cởi mở của tôi, không kể đến sự bảo lãnh của tổng giám đốc là bạn thân của gia đình, tôi có thể giao tiếp với khách nước ngoài rất tự nhiên qua tư cách là một phiên dịch năm thứ tiếng mà không bị phiền nhiễu bởi các cơ quan an ninh có nhiệm vụ bảo vệ tôi.  

&&&&&

Vào thời đó, quy định của các cơ quan du lịch về các mối quan hệ giữa nhân việc phục vụ và du khách nước ngoài rất nghiêm khắc.

Ngoài chương trình làm việc chính thức, chúng tôi không được phép có bất kì mối liên hệ nào với các du khách nước ngoài. Tất cả nhiệm vụ đã được phân đều được quản lý chặt chẽ và giám sát bởi các cơ quan an ninh và bảo vệ tại sở làm và tại các khách sạn, nhà hàng và những nơi khách nước ngoài được phép đi lại. Tuy nhiên, là một trong số ít người có đặc quyền giao tiếp với người nước ngoài với tư cách phiên dịch và quản lý dịch vụ cho người nước ngoài, tôi được phép lên kế hoạch trong ngày như tôi muốn với nhóm du khách và chuyên gia dầu khí do tôi chịu trách nhiệm trong thời gian đã ấn định trước, với sự đồng ý của các cơ quan an ninh.

Ví dụ trong chương trình tham quan hướng dẫn các đoàn khách du lịch, khi thì từ Đông Âu – Ba lan, Tiệp khắc, Hun-ga-ri, Đông Đức hoặc Liên-xô, tôi có thể đi theo một vài khách lẻ để hái hoa đuổi bắt bướm như tôi từng làm với một nhóm chuyên gia người Đức, hay ngắm đi dạo vào lúc bình mình ở Bãi Trước với một nhóm Ba lan hoặc dầu khí liên-xô, hay chơi bóng bàn trong Câu lạc bộ Dầu khí với các chuyên gia từ Na-uy, Canada, Ý trong thời gian trước khi đi ăn tối.

Tôi cũng được phép tổ chức những chuyến đi ngắn ngày từ Vũng Tàu vào thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), Nha Trang, Cần Thơ hay Đà Lạt, với tư cách hướng dẫn viên du lịch trưởng đoàn theo kế hoạch mà tôi tự sắp xếp qua yêu cầu của đám khách chuyên gia dầu khí ngụ tại Vũng Tàu. Trong một vài trường hợp, tôi thậm chí còn được hộ tống bởi an ninh khi khách hàng là những nhân vật quan trọng yếu nhân (VIP) như trong trường hợp Phạm Tuân, phi hành gia đầu tiên người Việt nam cùng đoàn hộ tống của ông khi ông đến thăm Vũng Tàu và được mời để khiêu vũ với khách, mặc dù đa số chúng tôi không biết khiêu vũ, nhưng cứ theo bước chân của khách. Thật là buồn cười, vì khi qua học tại Đông Đức, tôi cũng bị trường hợp tương tự, bị Giám hiệu lôi ra mở bal và lính quýnh vì không biết nhảy.

Đúng là “nhà quê mới ra tỉnh” thật. Tôi còn nhớ, các du khách của đoàn mà tôi hướng dẫn rất thích màu đã sạm nắng của tôi, nên tôi thường bị làm người mẫu cho hầu hết những du khách của mình chụp ảnh, mặc dù chẳng bao giờ họ biết tên thật của tôi, và cũng không được xin địa chỉ cá nhân để gửi ảnh đã chụp về cho tôi.

Trong chương trình hướng dẫn hàng ngày, tôi thường dắt khách đi dạo trên bãi biển, bơi lội, tắm nắng, tán chuyện dưới sự giám sát từ những đồng nghiệp trong bóng tối của tôi.

Mặc dù biết mình luôn luôn bị giám sát và theo dõi, tôi vẫn tự nhiên làm những công việc mà tôi thích để tạo những quan hệ tốt với các chuyên gia, những lúc nào tôi cũng luôn luôn cảnh giác không có cử chỉ hoặc hoạt động nào có thể bị cho là trái với nội quy của công ty. Tuy các bạn đồng nghiệp và xếp cũng luôn nhắc nhở tôi thường xuyên là phải cẩn thận trong khi giao tiếp với khách ngoại quốc, nhưng tánh nào tật ấy, tôi vẫn thong dong tiếp xúc với họ như thời trước 1975 với các giáo sư ở trường Pháp và ở Hội Việt Mỹ mà tôi đã được đào tạo và học thêm tiếng Anh buổi tối.

Thêm phần học tập lúc trẻ

Vì nói được bốn ngoại ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ, tôi cũng được phép hướng dẫn những đoàn nói tiếng Nga và tiếng Đức, và được thực tập hai thứ tiếng này trong bốn năm liền, với những du khách rất sẵn sàng chỉ dẫn và rất thích nghe những câu chuyện hóm hình của tôi. Đôi khi tôi cũng được hướng dẫn những nhóm nhỏ hơn từ các nước phương tây, những đoàn tiếng Nhật, tiếng Anh hoặc Tiếng Pháp, nhưng đây chỉ là những trường hợp cá biệt.  

Vào lúc ấy, tôi không biết rằng chỉ có những phóng viên phương Tây ủng hộ quan điểm cách mạng mới được cho phép vào Nam. Trong số đó có một phóng viên người Mỹ trở thành “fan” của tôi. Anh ấy rất có cảm tình với tôi và bắt đầu gửi thư cho tôi từ bất cứ nơi nào anh ấy đi tới, thông qua những kênh riêng. Cả tôi và anh ấy đều không biết rằng mọi lá thư đều bị kiểm duyệt bởi các cơ quan an ninh. Và rồi, tự dưng một hôm tôi không hiểu tại sao mình lại không được phép dẫn tour cho những nhóm người Mỹ nữa. Tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục hướng dẫn cho các đoàn chuyên gia dầu khí đóng ở Vũng Tàu, và các đoàn du khách từ các nước Đông âu và Liên xô.

Nhiều năm sau đó, tôi đã biết được rằng bởi một câu nói vô tình với một đồng nghiệp từ miền Bắc, sự nghiệp hướng dẫn du lịch cho du khách phương Tây của tôi đã bị kiềm chế. Lý do là vì một câu tôi đã trả lời cho vị phóng viên người Mỹ được tôi hướng dẫn chung với bạn đồng nghiệp miền Bắc khi được hỏi các du khách người Nga thích gì nhất, tôi đã trả lời là “họ thích những đồ vật bằng vàng hoặc bằng bạc” và tên hướng dẫn từ miền Bắc này đã báo cáo tới an ninh là tôi đã “bình luận tiêu cực về anh em xã hội chủ nghĩa”. Sau này nghĩ lại, có lẽ lúc đó tôi đã nên trả lời là “Họ thích Vodka”, thì nó sẽ phù hợp với những gì được phép nói.   

Tuy rằng đây chỉ là chi tiết nhỏ không đáng để ý, nhưng dần dần, những biểu hiện này trở nên thuờng xuyên trong quá trình làm việc khiến tôi nghẹt thở và cảm thấy mình phải đấu tranh để bảo vệ chút tự do bé nhỏ còn lại. Bởi vậy, thay vì tận hưởng những đặc quyền của nghề hướng dẫn và phiên dịch mà tôi yêu thích, nhưng sự thiếu tự do, thiếu giao tiếp cá nhân lại trở thành gánh nặng cho tôi, người đã được đào tạo ở miền Nam.   

Hậu quả là, tôi lựa chọn bảo vệ sự tự do của chính mình, đôi lúc cũng phải vượt qua giới hạn những gì được cho phép, và sẵn sàng tự chịu trách nhiệm trước hành động của mình, ngược lại với phần lớn những đồng nghiệp khác của tôi, họ luôn thận trọng khi nói chuyện với người nước ngoài trừ những khi cần thiết.   

Quả thật phần lớn các khách chuyên gia dầu khí nước ngoài mà tôi phải tương tác trong công việc hàng ngày đều đã phải chấp nhận điều ấy như một điều hiển nhiên, cho dù họ cảm thấy rất khó chịu vì sự cô lập ấy. Họ có cảm giác là họ đang ở trên hoang đảo, bị tách rời khỏi những người dân địa phương, trừ khi cần giao tiếp với người địa phương cho những công việc gắn liền với nhu cầu hậu cần của họ.  

Cuộc đời đôi lúc cũng trớ trêu, một vài chuyên gia trong số họ lại nghi ngờ tôi là an ninh bởi tôi biểu hiện tính cách dám nói dám làm của chính mình. Điều này lại càng tăng cảm giác cô đơn của tôi. Tánh tôi thích giao tiếp, nhưng không phải để nói những gì đã bị nhồi nhét, mà tôi cần phải trao đổi và tìm hiểu về các nền văn hóa nước ngoài, không dựa trên học hỏi giáo điều, không nghĩ kỹ hoặc sợ hãi.  

Tôi không muốn mình chỉ là một rô-bô biết cười cho du khách chụp ảnh hay một đoạn thu âm đa ngữ tự động lặp lại những câu giới thiệu cho các địa diểm du lịch. Tôi cảm thấy tôi cần nhiều không gian hơn, cần trải nghiệm qua nhiều sự trao đổi về cuộc sống, và cần được sự đồng cảm từ các khách du lịch hay chuyên gia nước ngoài nầy hơn là chỉ qua những cái bắt tay lịch sự hoặc những nụ cười đầu môi.

Viễn cảnh những nhóm du khách hàng ngày đến rồi lại đi, còn mình tôi thì vẫn ở lại một chỗ sau khi họ rời khỏi đất nước với những tấm ảnh kỷ niệm dần dần thể hiện trong tôi một cảm giác bị bỏ rơi và từ đó, tôi càng mang một nỗi buồn nặng trĩu trong sự cô lập của mình.

[…]

Tôi quyết định rời Vũng Tàu và xin vào làm việc tại cảng Sài Gòn tại Câu lạc bộ Thủy Thủ nơi mà những chiếc tàu hàng lớn tới rồi đi. Làm việc tại đó sẽ cho tôi cơ hội đạt được mục tiêu của mình, là tìm đường ra nước ngoài. Sắp xếp trong đầu là như vậy, nhưng mọi việc trong cuộc sống lại xảy ra khác với mọi dự tính của tôi.

Trong Tiếng Pháp, có một câu nói là ”L’homme propose, Dieu dispose”, có nghĩa là “người tính không bằng trời tính”. Càng ngẫm nghĩ, tôi càng thấy câu ngạn ngữ này rất là đúng. Mọi người hầu như đã có một số phận đã được định trước, có những người hầu như trong cuộc đời mọi thứ đều được sắp xếp theo một trình tự theo tỷ lệ thuận, và họ không phải lo nghĩ, mà tất cả đều xảy ra như ý họ mong muốn. Cũng có những người tính ngược tính xuôi, những sự việc đã sắp xếp thì đến giờ chót, lại phải vướng bận hoặc trục trặc, để rồi mọi sự tính toán đi toong, theo định mệnh đã an bài.

Cũng có những khúc quanh trong cuộc đời, tôi cảm thấy, nếu đúng thời cơ thuận lợi thì mọi việc tự nhiên đều rớt vào răm rắp, còn nếu chưa tới số, thì ôi thôi, sao mà việc gì cũng khổ trăm bề.

Trong trường hợp của tôi cũng thế, câu chuyện Tâm Cảm của đời tôi là để minh họa cho cái suy nghĩ này, và cũng là một mẫu chuyện minh họa cho tựa đề của cuốn sách “Trở về con số không” với quan niệm vô thuờng về cuộc đời của nhà Phật.

[…]

Ngày làm việc cuối cùng của tôi tại Vũng Tàu trước ngày tôi trở lại Sàigòn lại là ngày tôi gặp Kurt, và cuộc gặp gỡ này đã thay đổi hoàn toàn định mệnh cuộc đời tôi.

Trong lần tiếp xúc đầu tiên, tôi không có ý tưởng gì ngoài một sự trao đổi thư từ vì tôi rất thích viết và nói tiếng Pháp, là ngôn ngữ quen thuộc trong tâm tư và ý tưởng của tôi, vì tôi đã được đào tạo từ trường Pháp từ thuở nhỏ. Đối với con mắt của Kurt, tôi nghĩ là anh đã tìm thấy trong tôi một ánh sáng mà anh đã tìm kiếm rất lâu, và sự gặp gỡ này không phải là tình cờ.  

Đã từ lâu, nằm trên giường bệnh để chữa trị sống lưng sau một tai nạn đi trượt tuyết, anh đã theo dõi những diễn biến trên đài truyền hình Thụy Sĩ về những sự kiện những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở Vietnam vào ngày 30.04.1975. Có thể ngày 30.4 đối với anh rất gần vì nó gần trùng với ngày sanh của anh vào ngày 28.4. Đôi lúc những con số gần như vô nghĩa nhưng có thể nó cũng có những ý nghĩa mà con mắt phàm không hề thấy. Tuy vậy, trong hơn bảy năm, trước khi anh bước chân vào Vietnam, anh cảm thấy có một tiếng gọi thôi thúc là phải đến Vietnam”, và trong bảy năm liền, anh đã kiên nhẫn chờ xin visa để đến thăm quê hương của tôi. Khi anh gặp tôi, thì anh chợt hiểu ý nghĩa của câu tiếng gọi của còn tim” (ha ha, đến đây, chắc mấy con tôi lại cười khúc khích “Mummy, hay giữ một chút “modesty” đi nhé!” vì tôi thường hay dạy chúng nó « Hãy nhìn gương Mummy thì mọi việc sẽ ổn », khà khà.

Nói cho vui thôi, chứ tôi cũng đôi lúc tự nghĩ “Trời ơi, tại sao lại như vầy? À, thì ra, đúng là định mệnh đã an bài. Cuối cùng thì đã có sự sắp xếp của trời đất cả rồi, hãy chấp nhận số phận của mình đi…”

Lan man mãi, trờ lại câu chuyện vào thời điểm đó, khi tôi gặp Kurt, thì riêng phần tôi, khi nghĩ đến ra nước ngoài, tôi cũng không có định hướng rõ rệt là sẽ đi đâu? đi Mỹ? hay đi Tây? Hiển nhiên hai nơi này là nơi mà tôi cứ nghĩ đơn giản là bước ra khỏi Việt nam, thì tự động sẽ đặt chân tới hoặc Mỹ hoặc Tây, chứ không ngờ thế giới lại đa dạng và cuộc sống cũng đầy những bất ngờ đến như vậy.

Vào thời điểm đó, tôi cũng không nghĩ mình sẽ lấy chồng. Như tôi đã trình bày trước đây, qua lá số tử vi của tôi, vị trí của “hôn nhân” nằm dưới sao “phá Quân” có nghĩa số tôi không nhờ được chồng. Hơn nữa, trong lúc mơ tưởng đi ra nước ngoài, tôi thường đi xem bói, và xem tay, và có nhiều người, kể cả những người nước ngoài (từ Singapore, Hongkong, hoặc Ấn độ) mà tôi gặp sau này, sau khi xem chỉ tay của tôi xong, đều lắc đầu ngoay ngoảy. Cái nầy là không tốt đâu và họ thường nhìn tôi một cách nửa thương hại, nữa thông cảm… Bởi thế, tôi vẫn tự nhũ, ôi thôi, mình không cần có chồng, cứ tự lo thân là xong. Thật là tức cười, cứ như mình quyết định về số phận là cứ thế mà « vô ga » thẳng tiến trên đại lô của cuộc đời.

Khi tôi gặp Kurt, thì cũng như tôi đã gặp hơn cả nghìn du khách mà tôi thường hướng dẫn, họ chỉ để lại cho tôi một nỗi buồn về sự cô lập của tôi.

Tôi cũng chẳng có một sự chờ đợi đặc biệt nào, ngoài một niềm vui nho nhỏ là mình được thêm một tấm hình « tài tử cô gái hướng dẫn Vietnam » cho các du khách. Tôi nghĩ con Panda ở sở thú, nếu nó biết suy nghĩ thì cũng sẽ suy nghĩ như tôi lúc đó thôi : « Ô, lại thêm một người đến sở thú ngắm mình, rồi họ sẽ ra di…, và ngày mai lại một cuộc gặp gỡ không tương lai »…

Tôi không ngờ Kurt là một người rất quyết tâm và đã làm tất cả để đạt được tình yêu của tôi. Tôi cũng không ngờ mối quan hệ của chúng tôi sẽ tiến triển và trở thành một tình yêu sâu sắc vượt qua mọi biên giới về văn hóa lẫn địa lý.

Hình như định mệnh đã an bài cho tôi lưu lạc đến đất nước Thụy sĩ và nó lại tiếp tục níu giữ tôi lại chốn này cho tới ngày hôm nay. Nhưng vào lúc ấy, tôi không hề nghĩ tới viễn cảnh này, và bây giờ nhìn lại, tôi không thể ngờ cuộc đời lại đưa đẩy và cho tôi một sự may mắn thật không ngờ này. Cảm ơn Trời phật và Thượng đế đã cho con một cuộc sống quá ư tốt đẹp và an lành.

Thực vậy, vào thời điểm đó, mặc dù tôi có địa chỉ mà anh ấy đã nhanh tay trao cho tôi với lời hẹn sẽ gặp tôi tại Thụy sĩ ngay lần đầu gặp gỡ, ngay lúc ấy, tôi có những việc cần ưu tiên giải quyết khác.

Thứ nhất là việc chuyển công tác về Sài Gòn, rồi sau đó tôi phải làm quen với công việc mới. Gia đình tôi đã chuyển từ Dalat về Sài Gòn từ khi tôi chuyển ra Vũng Tàu, nên tôi không phải tìm nhà trọ hay nhà người quen như lúc ra làm việc tại Vũng Tàu. Qua người thân, tôi được nhận vào Câu lạc bộ Thủy Thủ, ở cảng Sài Gòn. Mục đích của tôi là làm quen với những thuyền trưởng để có thể xin họ một ‘’chân’’ trên tàu để đi nước ngoài, mà không bị rủi ro như những thuyền nhân vượt biên.

Thời ở Vũng Tàu, tôi đã từng chứng kiến cảnh những xác người tấp vào bờ sau một đêm sóng lớn. Lúc đó, tôi không hề biết những trường hợp các tàu bị nó trên biển sau khi ra khỏi. Tôi cũng đã biết những cảnh ngộ của những người ra đi không thoát và phải bị bắt đổ đồn Cỏ may” vì mỗi lần đi về Sài Gòn, mọi người phải đứng ở trạm đó. Tôi cũng đã thấy các bạn cùng lớp Pháp văn của mình đột nhiên biến mất qua nhiều năm tháng, từ con số bốn mươi học sinh ở năm một, để trở thành khoảng năm sinh viên lúc ra trường. Thật là một sự thay đổi quá khủng khiếp. Nhưng lúc đó, hình như mình thật sự còn quá non, và không ở gần cha mẹ, nên sống rất xa rời thực tế, ngoài việc phấn đấu trong trường học và tham gia vào cuộc thi đua, học tập, thi cử, và các hoạt động ngoại khóa khác.

Hơn nữa, vì phương tiện vật chất có hạn, nên không đi chơi, hoặc giải trí, ngoài việc vào thư viện nghiên cứu, và đi xem phim với một người bạn rất thân, chị Mỹ Liên, đã vượt biên năm 1979, và đã mất tích từ dạo ấy.

Lúc đó, quan niệm vượt biên của tôi nó cũng xa vời như sự hiểu biết về thực tế của cuộc sống. Dạo ấy, không có truyền hình, không có internet, không có cả điện thoại, và cũng không có cả tiền đi xe buýt, phải đi bộ bảy cây số từ ký túc xá đến trường, và buổi chiều đi về cũng vậy.

Cuộc sống đối sinh viên từ quê ra tỉnh ở Ký túc xá thì thật là khổ cực. Trong một phòng có mười hai sinh viên nheo nhóc, mọi người chỉ có hai mét vuông, lại ở chung với các bạn từ miền Bắc vào, không có kỷ luật và tôn trọng khoảng không gian tư của bạn khác, cứ tự nhiên như “người Hànội”, mà các bạn khác đã dí dỏm so sánh với câu “tự nhiên như ruồi”. Nhưng bù lại, vì chật chội nên dễ thân thiết nhau hơn. Cái Mai và cái Hương và cái Lan, chị Tằng và chị Hổng, chị Đức và cái Bình, mọi người đều đến từ nhiều tỉnh khác nhau, từ miền Tây, miền Đông, miền Trung, miền Bắc, đủ cả. Chị Đức từ trong bưng ra, nhưng rất đẹp gái, mặt mày lúc nào cũng hồng tươi, chị Hồng, trái lại xám xịt, còn chị Tằng người dân tộc thì rất có duyên và có nét rất đẹp.

Đó là lứa tuổi lớn hơn tôi một hai tuổi, tôi vẫn gọi bằng chị. Còn cái Mai, Hương, Bình, Lan thì cùng tuổi nên xưng bạn chứ không kêu chị. Mọi người mỗi buổi sáng cùng đi bộ từ Chợ Lớn đến trường Văn Khoa ở gần Sở thú, vui vẻ lết trên đường phố, và buổi tối thì mọi người về lại ký túc xá bằng phương tiện khác nhau và khác giờ.

Vì điện và nước rất hiếm, và chỉ có vài phòng tắm cho hơn cả trăm sinh viên nên chúng tôi phải đợi đến phiên đi tắm rất lâu. Do đó tôi có thói quen đi tắm vào lúc giữa khuya, khi mọi người đã ngủ và nước cũng chảy được nhiều. Còn giờ ăn thì chỉ có cơm và một tô canh mà chúng tôi đã ví như “ao thu lạnh lẽo nước trong veo, một tế bào heo bé tẹo teo” nhưng hình như lúc còn trẻ và còn sức, chuyện ăn uống hình như không quan trọng lắm cho mọi người, kể cả tôi, khi bữa ăn đầu tiên là bảy giờ tối.

Ấy vậy mà tôi lại cảm thấy trong lòng rất vui, vừa đi vừa cảm thấy cuộc đời tươi như hoa, mặc dù buổi ăn sáng và tối duy nhất bắt đầu vào lúc bảy giờ tối, lúc tôi trở về ký túc xá, sau khi khởi hành từ lúc năm giờ sáng để đến câu lạc bộ bơi lội, và đến trường sớm để chơi cầu lông, và sinh hoạt văn nghệ với các bạn cùng lớp.

Sau này, tôi và người bạn thân nhất thời đó là chị Mỹ Liên cũng đèo nhau một chiếc xe đạp mini (tôi đạp, và đèo ML đằng sau) chúng tôi cùng đi đánh bóng bàn, đi bơi, và đi xi-nê với nhau, cùng đi ăn một tô mì tại Tân Định, hoặc ăn một buổi cơm tấm tại Dakao, hoặc một buổi cơm chay tại chân cầu Công lý. Khi sáng lắm thì chúng tôi ăn chè, hoặc uống cà phê, còn không thì chị uống trà đá, và đôi lúc ăn kem. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên được mời uống cà phê đá, sau khi đánh bóng bàn với một ông anh – lúc đó khoảng ba mươi – nhưng đối với chúng tôi thì đó là ông lão, hai đứa tôi không tên nào ngủ được cả đêm, cứ thao thức mãi, và tự như tại sao cái ông lão xấu xí kia lại làm lòng mình xao xuyến đến thế. Té ra là tại ly cà phê đá mà mình không quen dùng. Khi biết ra lẽ, cả hai chúng tôi đều cười ngất ngư.  

&&&&&

Lúc đó là thời điểm 79 – sau nầy đọc sách sử của Hoàng Dụng mới biết đó là lúc chiến tranh Đông Dương 3 vào thời kỳ ác liệt nhất – chúng tôi được lệnh tập trung ở vườn Tao đàn, các cán bộ không biết ở đâu đến nói với chúng tôi rằng “chúng ta sẽ không có chiến tranh với Kampuchea” nhưng anh em Kampuchea cần sự giúp đỡ của các bạn ở Vietnam.

Họ kêu gọi chúng tôi xung phong để ra chiến trường giúp anh em Kampuchea. Tự dưng lúc đó tôi chợt lóe lên một sự nghi ngờ. “Tại sao lại đánh nhau nữa? Tôi tưởng đã hoà bình và xây dựng chủ nghĩa xã hội cơ mà?”. Bây giờ lúc tôi viết trang này thì tình hình cũng nóng bỏng dầu sôi, và chắc chắn ở vườn Tao đàn lại có một họp mặt kêu gọi thanh niên đứng lên vì tổ quốc để bảo vệ quê hương chống giặc tàu.

Ối thôi, cái khái niệm chiến tranh hay hòa bình hình như nó hơi lẫn lộn hơi hướng lợi ích nhóm đâu đó. Nhưng lúc đó, ở tuổi hai mươi, tôi nào có hiểu…

Lúc ra trường đi nhận công tác tại Vũng tàu, cú xốc đầu tiên của tôi là khi nghe một bạn chuyên gia dầu khí nước ngoài nói về cuộc chiến tranh tại Kampuchea, và Vietnam chính là nước xâm chiếm Kampuchea ! Hỡi ôi, sau đó lại hay tin bạn tôi chị Mỹ Liên đã trở thành phóng viên chiến trường.

Với dáng dấp nhỏ bé và nhanh nhẹn như một con sóc, Mỹ Liên là một cô gái rất xinh với gương mặt của nàng Natasha trong phiên Liên xô “Chiến tranh và Hòa Bình” của Tolstoi. Chị được giới nam trong trường ngưỡng mộ đắm đuối vì giọng ca soprano và cây đàn mandolin réo rắt của chị ấy. Hai chúng tôi thường hòa nhạc với nhau, tôi thì chơi đàn ghi-ta, lại hát giọng trầm, chị ấy thì reo rắt tiếng mandolin, cả hai đứa, một là tiên nữ đẹp như thiên nga, còn tôi thì cứ như vịt trời, đen đủi và quê mùa, nhưng đuoc đứng gần thiên nga nên cũng được huởng được cái ân huệ thiên bẩm của chị vì được nhiều người chú ý đến Mỹ Liên nên cứ mon men lại gần tôi là ông thần hộ mạng của chị ấy.

Ôi, bao nhiêu kỷ niệm đẹp thời thanh thiếu. Sau này chị ấy ra Vũng tàu lần cuối để gặp tôi, tôi nào có biết chỉ đến từ giã để ra đi vượt biên và không bao giờ trở lại, đó là một sự mất mát lớn cho tôi, và qua nhiều năm, tôi vẫn thấy chị thập thò ngoài cửa trong giấc ngủ chập chờn của tôi, mà không bao giờ bước vào phòng tôi. Bây giờ đã hơn bốn mươi năm qua, có lẽ hồn của chị đã yên nghỉ nơi chín suối. Một hồng nhan bạc phận ra đi giữa tuổi thanh xuân…Thương chị quá !

Nhiều bạn khác cũng đã ra đi vào lứa tuổi rất trẻ, một bạn mà tôi rất quý là Mỹ Huệ, người Saigon nhưng gốc Long Xuyên, nếu còn sống thì này cũng đã hơn 50++ giống tôi, với con lớn hơn con trai tôi bây giờ, bị bệnh tim và đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên. Những bạn khác cũng lần lượt lặn lẽ ra đi, bây giờ không biết ở phương trời nào. Có những bạn tôi tìm lại được tông tích sau bốn mươi năm, những hình như cũng đã có một cái gì ngăn cách không cho chúng tôi có thể tâm sự thoải mái như lúc còn ở trường với nhau. Sau này những quan hệ trong sở làm cũng không giống như thời còn sinh viên, và nhất là trong một xã hội đầy rẫy những sự bất công dựa trên tư tưởng và định kiến về thành phần lý lịch hay khác biết về văn hóa. Trong tâm trạng đó, tôi vẫn bồi hồi vì xa bạn, lại trải nghiệm các thay đổi về xã hội quá nhanh, lại không được gần cha mẹ để được đùm bọc và tâm sự, nên dần dần cũng mất phương hướng và muốn tìm về một phương trời tự do hơn.

&&&&&

Ngày đầu tiên với công việc mới ở CLB thủy thủ, tôi ngay lập tức cảm nhận áp lực. Sếp của tôi là một phụ nữ to béo từ miển Bắc với một tính cách người gốc Hoa rõ rệt. Bà ta rất ganh ghét những người miền Nam được giáo dục bởi văn hóa nước ngoài, lại có góc bự (do sự bảo trợ mới vào được cơ quan này) và tôi rơi vào cả hai danh mục ấy. Tôi được phân công tới một cửa hàng đồ lưu niệm ở tầng hai, với vị trí phụ trách kinh doanh. Tuy vậy, gian hàng rất nghèo nàn, chỉ lơ thơ một vài hàng lưu niệm bằng gỗ hay mây tre và hàng gốm được các thủy thủ nước ngoài ưa chuộng. Cửa hàng đồ lưu niệm có dáng vẻ như bất cứ cửa hàng nào của nhà nước mà bạn tìm thấy tại hầu hết các quốc gia XHCN trước năm 1990. Tại sao nó lại tồn tại được tại CLB Thủy Thủ đối với tôi vẫn là một bí ẩn. Tại các quốc gia tư bản, nó chắc hẳn đã tự giãy chết ngay từ những ngày đầu tiên rồi.  

Chắc ai cũng đủ biết rằng các thủy thủ khi cập bến cảng của bất cứ nước nào cũng sẽ tìm những thú vui khác hơn là mua một vài món đồ lưu niệm tại một quầy hàng quốc doanh. Một số ít bọn họ sẽ chỉ dành 5 giây liếc qua cửa hàng xem với hi vọng tìm một cô gái xinh xắn nào để bắt chuyện, nhưng phần đông tập trung sự chú ý của họ vào các quán ăn hoặc quầy ba ở tầng trệt, nơi các cô gái mặt phấn son sẵn sàng phục vụ bia rượu hoặc tham gia một điệu nhảy, hay họ sẽ tới phòng mát-xa (massage) ở tầng ba nơi họ có thể tìm thấy chút hơi ấm con người để bù đắp quãng thời gian dài trên biển. Trong thời gian làm việc tại đó, tôi được biết thêm về các hoạt động ban đêm của gái điếm và buôn lậu từ phía bên kia sông Thủ Thiêm, dưới sự giám sát của cảnh sát biên phòng, tuy những hoạt động này không thuộc phạm vi của Câu lạc bộ Thủy Thủ nơi tôi làm việc.

Đội ngũ bán hàng mà tôi được phân công là một nhóm bảy chị em, trong một gian hàng khoảng 30 mét vuông và không có nhiều việc để làm. Phần lớn thời gian, chúng tôi ngồi ở cửa hàng và đợi khách rất hiếm hoi ghé ngang cửa hàng chúng tôi để lên tầng 3 đến gian hàng mát-xa. Tôi dùng phần lớn thời gian rảnh rỗi luyện tập các kỹ năng ngôn ngữ mình đã rành: mỗi ngày, tôi giành ít nhất hai tiếng để luyện tiếng Đức, hai tiếng cho tiếng Nga để duy trì trình độ. Thời gian còn lại dùng để viết thư khi tôi bắt đầu trao đổi thư từ với Kurt và qua đó sử dụng tiếng Pháp để khỏi bị mai một.

Tôi nghĩ kỹ năng viết của tôi đã khá hẳn lên trong quãng thời gian ấy, với Kurt là độc giả duy nhất của tôi, và đã động viên tôi rất nhiều. Tôi trút hết tất cả giấc mơ của mình qua nhũng lá thư đưa tay qua trung gian các thủy thủ tôi gặp trong sự chú tâm nhiệt thành của anh qua những lá thư nhận qua đường bưu điện. Phần lớn, anh gửi cho tôi những bưu thiếp giành cho du khách, với những hình ảnh về núi đồi, cảnh đẹp và các sinh hoạt có tính cách du ngoạn của Thụy sĩ nhưng rất ít hình ảnh của đời thường như siêu thị, xe buyết, xa lộ, các phương tiện di chuyển hiện đại của Thụy sĩ, qua đó tôi hình dung được một phần cuộc sống ở trời Ấu, nhưng cũng không nhiều thắc mắc và ngạc nhiên cho tôi khi tôi đặt chân lên mảnh đất sẽ thành quê hương thứ hai này của tôi.

Hàng ngày, tôi vẫn phải đối phó với các đồng nghiệp tại nơi làm mới. Có một người rất hạnh phúc với những hoạt động của cửa hàng, đó là bà sếp của tôi. Tuy là quản lý cho nhà nước, nhưng trong thực tế bà ta lấy hết lợi nhuận cho vào túi mình mà không hề bị vi phạm kỷ luật, lý đó đơn giản là bà ta kiếm được gấp 50 lần số tiền vốn và sử dụng sức của chúng tôi để khiên vác những con với bằng gốm sứ từ xe tải và chất lên tàu. Mỗi còn với giá MỘT đô là từ nhà sản xuất, nhưng bán cho lái buôn với giá NĂM MƯƠI đô là cho mỗi con, mà không trả một xu tiền thanh toán công sức của chúng tôi.

Lương của tôi vẫn là MỘT đô la mỗi tháng, nhưng xui xẻo cho tôi là tôi luôn luôn bị phạt bởi bất tuân lệnh vì hay nói chuyện với khách hàng. Kết quả là khi bình bầu lao động, hai mươi phần trăm lương của tôi bị cắt, và vào cuối tháng, tôi được trả 80 xu, cho lao động từ thứ hai tới chủ nhật, đạp chiếc xe không phanh 7 cây số mỗi lượt từ nhà đến cảng, và thường về rất khuya trong các đường phố tối đen không ánh đèn (vì bị cúp điện thường xuyên), bất kì thời tiết nắng hay mưa. Tôi thường về nhà sau 11giờ khuya, kiệt sức sau một ngày dài không ý nghĩa, nhưng thỏa mãn với chút niềm vui tôi nhận được trong quãng thời gian buồn tẻ của cuộc sống ấy.  

Thật vậy, mặc dù tôi tự giam cầm bản thân trong vị trí khiêm tốn ấy để trốn tránh sự ghen tị của đồng nghiệp và nghi ngờ của an ninh, tôi sống trong sợ hãi sẽ bị bắt trong phần lớn thời gian mặc dù tôi chẳng làm gì bất hợp pháp, ngoài việc viết thư cho Kurt.

Thật vậy, chỉ nhìn thấy bóng dáng một vài chú công an khi đạp xe về nhà kể cả giữa ban ngày, tự nhiên tôi cảm thấy tim thắt chặt, và có phản ứng muốn chạy trốn, vì bất cứ hành động nào cũng có thể bị truy tố, từ việc nhận quà lưu niệm của khách đến việc sử dụng tiền đô-la, mặc dù tôi không buôn lậu hoặc chợ đen, và chỉ nhận được quà của khách tặng vì được họ thương mến.

Thật vậy, niềm an ủi duy nhất của tôi là, mặc dù ít tiếp xúc với khách thủy thủ trong công việc, nhưng do các kỹ năng ngôn ngữ và cách diễn đạt tự nhiên của tôi lại mang cho tôi một số người ngưỡng mộ khác. Phần lớn những thủy thủ cập bến nói tiếng Đức hay tiếng Nga nên thường vui mừng khi có ai đó để đàm đạo những vấn đề ngoài những như cầu cơ bản bằng chinh ngôn ngữ của họ.

Và nhờ thế tôi trở thành một loại bạn tâm tình của họ, mặc dù quan hệ giữa chúng tôi không hề có một tiếp xúc qua một nắm tay hay cả một ánh mắt. Qua những tiếp xúc rất ngắn ngủi này, tôi hiểu được tâm lý của những người đàn ông, rằng đằng sau vẻ ngoài cứng rắn hay thô lỗ, họ thường giấu sự nhạy cảm sẵn sàng bộc phát khi có bạn tâm giao. Tôi học được nhiều kinh nghiệm mới mẻ qua những cuộc trò chuyện ấy và sau này, khi ở phương Tây, tôi ít được trãi nghiệm tương tự với giới đồng nghiệp nam, vì bất cứ biểu hiện của sự yếu đuối nào đều được xem là thiếu sót nghề nghiệp (non-professionalism) và được xem như sai lầm trong đôi mắt của đồng nghiệp và đối tác. Trớ trêu thay, khi ở trời Tây, có đầy đủ tự do ngôn luận, thì sự ngăn cách lại rớt vào một tầm vóc khác, vì “it tới thì thương, năng tôi thì thường.

Mọi người mà tôi tiếp xúc khi ngồi xe lửa đi làm hàng ngày, hoặc ngay cả khi tôi tung tăng bơi lội trong bể bơi cả hơn nhiều tiếng đồng hồ, đều giữ ý không nhìn thẳng vào mặt tôi, cũng không xáp lại gần để hỏi tôi từ đâu đến, như trường hợp các tài xế taxi ở Singapore thường sử dụng để làm quà câu chuyện.

Vì thế, câu “tuy xa mà gần, tuy gần mà xa” thật là đúng. Tuy nhiên, do không bị khoảng cách bất đồng ngôn ngữ thì cần tiếp xúc trong những tình huống bất đắc dĩ, thì bức tường vô hình cũng biến tan ngày sau khi tôi cất tiếng nói, vì họ nghe âm hưởng rất quen tai. Đó là điều mà tôi cũng tự hào là « không cần nói cũng hiểu nhau » là được rồi.Tuy vậy, các kỹ năng CRM (giao tiếp khách hàng) học được trong thời gian tiếp xúc tại các quầy hàng ở CLB Thủy Thủ trong thời gian vài tháng đã được tôi áp dụng trong nghề marketing một cách hiệu quả sau này khi sinh sống tại Singapore và tại các nước phương Tây.

Quả vậy, vào lúc đó, chúng tôi không có quyền nói chuyện hoặc đôn đã chào mời khách như ở các nước tự do. Phải đợi khách hỏi trước mới được trả lời. Những thủy thủ đến từ Nga, Ba Lan hay Đông Đức thường sử dụng và một loại nước hoa đặc trưng của nước họ. Do đó tôi có thể đoán qua mùi nước hoa để sử dụng ngôn ngữ của họ khi mới gặp lần đầu. Thật là kỳ diệu, nét mặt của họ rạng rỡ, và họ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi chúng tôi bắt đầu trò chuyện về những vấn để sâu sắc hơn. Kết quả là các người bạn mới này đều mang rất nhiều hàng lưu niệm tặng cho tôi để có được 5,10 phút nói chuyện trong tiếng bản xứ của họ.

Nhờ vậy, tôi luôn có những khán giả để giúp tôi vượt qua những giờ phút buồn tẻ dài đằng đẵng qua những chuyến viếng thăm ngắn ngủi ở cửa hàng, và tôi đã trở thành một cô bán hàng rất thành đạt. Sau này, tôi mới biết rằng tôi đã phát triển một loại kĩ năng đặc biệt cho phép tôi bắt đúng kênh giao tiếp, mà tôi hiện vẫn sử dụng để giải quyết những cuộc đàm phán chuyên nghiệp, mang lại nhiều kết quả hữu ích cho công việc tiếp xúc. Nhiều năm sau đó, tôi khám phá ra cuốn sách của Daniel Coleman “trí thông mình cảm xúc” (Emotional Intelligence), là một kỹ năng mà ít người châu Âu được đào tạo trong gia đình, xã hội hoặc cuộc sống.  

Thật vậy, nghĩ lại thời “vàng son” nhưng buồn tẻ ấy, tôi không khỏi bâng khuâng với các tình cảm mà các bạn ấy đã giành cho tôi.

Một điều khác làm tôi cảm động khi nghĩ đến những khách hàng đó: bởi vì chúng tôi không được phép tiêu khiển với khách hàng, trừ khi chúng tôi bán được cho họ một món hàng gì đó trong cửa hàng, vậy để có thể tiếp xúc với tôi, các khách hàng này phải vơ vội lấy thứ gì đó trong tầm tay, thường giá trị 3-5 dô-la, và trong khi tôi giả vờ phục vụ việc mua sắm của họ, chúng tôi có thể nói chuyện được lâu hơn. Sếp của tôi thường không nói được tiếng nước ngoài, nhưng vẫn để ý xem chúng tôi có trao đổi lâu hay không để báo cáo an ninh.

Trong số các khách hàng quen thuộc làm tôi nhớ mãi, người bọn họ có cùng một cái tên: Michael, Micheslaw là người Ba Lan, Michael là người Đông Đức, Mike, người mà tôi không nhớ quốc tịch, hình như là người Miến Điện hay Ấn đô thì phải (?). Tôi thường mang về nhà một số quà tặng từ họ: một bánh xà phòng, một hộp thuốc lá, vài quả táo, một vài chiếc bánh sô cô la từ Ba Lan, một ít rượu aquavit, vài chiếc áo phông, vài cassette âm nhạc vàng, một ít nước hoa, thậm chí là vài chiếc đồng hồ điện tử. Thật là dễ thương, Michael, đã tặng cho tôi tất cả những thứ mà ban đầu anh mua cho vợ mình.

Một chi tiết mà tôi nhớ từ một người hâm mộ đáng yêu của tôi, Micheslaw, đó là anh luôn mua một chiếc nón lá để được phép nói chuyện với tôi. Tôi đoán khi rời Việt Nam, chắc anh phải có nhiều chồng nón lá trong phòng mình. Một hôm, anh tới thăm tôi với hai vết đỏ trên cổ, tôi hỏi anh chuyện gì đã xảy ra. Mặt anh đỏ bừng như cà chua và sau đó tôi được biết những cô gái được cho lên tàu để “làm việc” với thủy thủ của tàu. Micheslaw có lẽ cảm thấy rất ngại khi kể cho tôi về những hoạt động ấy.

Mischelaw để lại cho tôi một kỷ niệm rất khó quên. Anh hay trốn đằng sau cánh cửa nơi chúng tôi để xe đạp, lao vội ra khỏi chỗ trốn, nhanh chóng trút vào trong chiếc rổ xe đạp của chúng tôi (phần lớn là của tôi) một đống quà và vội vàng biến mất vào trong bóng tối, để tránh việc chúng tôi bị rắc rối với an ninh. Ngày cuối cùng trước khi anh rời Sài Gòn đi Hải Phòng, anh tới với nhiều quà hơn nữa, thậm chí còn tặng tôi một ít tiền. Hôm ấy, tôi rất buồn bởi chuyến ra đi của anh, tới nỗi chẳng để tâm gì khi đi qua trạm gác, kết quả là tất cả mọi món quà tôi nhận được đều bị tịch thu. Dù sao cũng cảm ơn anh, Mischelaw, cho dù anh đang ở đâu, nếu anh đọc được những dòng này, Annieschka của anh !!!

Một trong những người tôi gặp lúc bấy giờ, một kỹ sư người Đức, Ralf, cũng rất có cảm tình với tôi thời anh ấy công tác qua Vietnam, đã gửi cho tôi qua bưu điện vài trăm East Mark (tiến Đông đức) tới địa chỉ tôi dang ở sau khi được biết tin tôi đang học ở Đông Đức. Tôi rất cảm động bởi những món quà từ tận trái tim ấy. Phần lớn họ thậm chí không biết tên thật của tôi, họ thường gọi tôi là Anna, Anita, Annieschka, Antonia để cho dễ nhớ hơn.

Thực ra những vị khách của tôi không hề biết rằng khi chúng tôi qua trạm kiểm soát ở cổng lớn, chúng tôi bị khám xét cơ thể, không phải vì lý do an ninh, mà chỉ để nhằm tịch thu toàn bộ những món quà chúng tôi nhận được từ các khách đã tặng. Nhưng thông thường chúng tôi xoay sở giữ được vài món cho mình, và vì thế mà các em tôi ở nhà luôn háo hức đón chờ tôi về. Tôi có cảm tưởng mình là ông già Noel mỗi ngày vậy. Món quà không đáng bao nhiêu, nhưng cảm giác vui khi được là trung tâm của sự chú ý, và biết rằng những thủy thủ ấy tuy nghèo, đặc biệt là những người từ khối các nước Đông Âu, khiến tôi trân trọng những món quà ấy hơn.

Thông thường tôi không bao giờ than phiền về cuộc sống vật chất của mình, tôi đoán họ đã nhìn thấy sự nghèo đói ở mọi nơi trên đất nước này và tôi may mắn được là tâm điểm trên đường của họ. Trong lúc ấy, tôi không quên mục tiêu chính của mình là tìm một thuyền trưởng đưa tôi lên tàu. Tôi quen biết một vài vị thuyền trưởng là khách hàng quen, đã bị phạt 30,000 Đô la mỗi người bởi họ bị khám tàu khi giúp mang người đi. Vi vậy, tôi đã đi đến kết luận rằng chẳng cần hỏi cũng không thể thử trốn thoát bằng cách ấy.

Trong những cuộc trò chuyện với những người bạn mới này, tôi học được rất nhiều điều thú vị, nhưng đồng thời cũng biết được nhiều bi kịch. Tôi đã tự hứa sẽ viết về những sự kiện này một ngày nào đó và chia sẻ với bạn đọc những gì đã diễn ra.

Một trường hợp tôi còn nhớ rõ là cúa một kỹ sư Ấn Độ, vóc dáng to lớn, dầu tóc quăng tít, đã giúp đưa một cô bạn gái người Việt bằng cách giấu cô ấy trong hầm tàu và đã chấp nhận án phạt giá 30,000 Đô la của chính phủ Singapore để xin giữ cô gái làm vợ thay vì trả cô ta lại Vietnam. Chị gái của cô, người vẫn còn ở Việt Nam, đã liều mạng giả trang gái điếm để leo lên tàu qua đường Thủ Thiêm gặp anh ta trên tàu để cảm ơn. Tôi được biết từ câu chuyện của anh rằng cô dâu trẻ ấy, trước khi tìm cách trốn chạy, đã bị lừa gạt bởi một số thủy thủ người Cuba, những kẻ này đã giữ cô trên tàu của họ trong vài tuần liền trước khi thả cô ra. Chúng biết rằng chúng không thể giúp cô trốn thoát nhưng lại khuyến khích cô ở lại trên tàu. Vì mục đích gì, có lẽ các bạn đã có thể đoán được! Đau đớn thay cho phận đàn bà!

Một câu chuyện khác thậm chí còn kinh khủng hơn. Một thuyền trưởng người Hi Lạp thường hay tới cửa hàng của tôi và trò chuyện với tôi. Vào ngày thuyền của ông phải rời bến, ông đã hớt hải chạy tới cửa hàng của tôi và kêu lên: “Anita, chúng ta đang gặp một thảm họa rồi”. Qua thái độ của ông, tôi có thể hiểu sự nghiêm trọng của vấn đề. Trước khi nhổ neo, vị thuyền phó đã phát hiện rằng một số người Việt đang trốn ở hầm để giữ neo lên khi tàu rời bến. Họ không biết rằng khi tàu kéo mỏ neo lên, họ sẽ bị nghiền nát và đè bẹp như thịt băm nhỏ. Nếu không phải do việc họ nói chuyện ồn ào với nhau khi chờ chiếc tàu rời bến, báo động cho thuyền phó kỹ sư thứ hai đang kiểm tra tàu trước khi nhổ neo, thì có lẽ họ sẽ không trốn thoát khỏi số phận khủng khiếp ấy. Chúng tôi lao vội tới cảng tàu để xem những thợ lặn đặc biệt được gửi tới để dò tìm những người tị nạn đã nhảy từ tàu và đã lặn xuống đáy sông khi khi bị báo động. Chắc hẳn đã có những trường hợp ít may mắn khác không bị phát hiện trước khi tàu rời bến và chắc chắn đã có nhiều thảm kịch xảy ra. Tôi không dám nghĩ xa hơn thế nữa. Thật là kinh khủng…

Và cứ thế, hơn một năm, cuộc sống mà tôi cho là thời gian nhàm chán nhất trong đời tôi đã trôi qua, với những chìm nổi xung quanh tôi, với những uất hận của những kẻ kém may mắn hơn tôi, và những niềm vui nhỏ từ những người có một chút mày mắn hơn tôi đã san xẻ với tôi một chút tình người để cuộc sống đó bớt phẳng lặng. Nghĩ lại, tôi xin cảm ơn các bạn ấy, và cả các đồng nghiệp trong cửa hàng của tôi, đã cùng vượt qua nhiều phen hú vía để chia xẻ một ít quà mọn mà chúng tôi nhận được từ những con người khách lữ hành ở một không gian mà họ không hề lựa chọn để đến viếng thăm.

&&&

Thật may mắn cho tôi, giai đoạn chuyển tiếp ấy của đời tôi cuối cùng đã kết thúc. Qua một thời gian trao đổi thư từ giữa tôi với Kurt, tôi lại được hạnh phúc nhìn thấy anh vào sinh nhật thứ 25 của tôi. Anh đã chọn ngày sinh nhật tôi để tới cầu hôn tôi. Câu truyện Tấm Cám của tôi bắt đầu từ đó. Nó chỉ khác nhau với các Tấm Cám khác ở một điểm là trong những câu truyện thần tiên, không có đoạn kế làm sao để giải quyết việc xin giấy tờ xuất cảnh và làm thế nào để đối mặt với những thực tại khác của cuộc sống ngoài một kết thúc có hậu: “và rồi họ hạnh phúc bên nhau mãi mãi, với rất nhiều con xinh đẹp…”

Phải mất hai mươi bốn tháng tiếp theo đó để có được sự cho phép của chính quyền để kết hôn. Tuy nhiên, tôi cũng đã phải in lại thiệp cưới vì đến giờ cuối, Kurt không nhận được visa vào Vietnam đúng theo chương trình. Vì thiếu sự có mặt của chú rể, có dâu đành phải đổi ngày cưới, và sau khi nhận được visa, chúng tôi lại phải vội vàng thay đổi ngày đã in trong thiệp cưới lần thứ hai vì sợ chính quyền thay đổi ý định. Thật là nực cười, khi nhìn Kurt được đeo sau lưng một chiếc Honda, và tôi trên một chiếc khác để đến phòng công an phường đăng ký kết hôn. Khi được hỏi ngày cưới chúng tôi dự định là ngày nào, tôi vội đáp « dạ, ngày 14/4 ạ…», trong khi trong thiệp cưới đã in sẵn là ngày 18/4, vì là một ngày tốt. Thiết nghĩ, trước những tình huống như vậy, không ai có gan nghĩ đến việc chọn ngày tốt hay xấu, cứ hành động nhanh gọn là chắc ăn nhất.

Ở Thụy sĩ, tôi ngạc nhiên khi đến văn phòng hộ tịch đăng ký và xin giấy thông hành, chúng tôi đến đúng 5 phút trước giờ đóng cửa, ông đổng lý bảo tôi ký tên vào sổ thông hành, nhưng phải dùng họ của chồng trong chữ ký. Vì không biết thông tin này trước đó, tôi đã vội vã “improvise” một chữ ký theo yêu cầu trong tích tắc để kịp làm tờ giấy quý báu đó. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng 5 phút để được công nhận là công dân thụy sĩ sau ba năm làm giấy phép xin cưới.

Tôi vẫn chưa hoàn hồn khi nghĩ lại tại sao lại có cả sự khác biệt một trời một vực giữa một nước lạ chỉ vì họ tôn trọng quyền công dân và hạnh phúc riêng của một người dân của họ, và vì thế họ đã phải bới tung bộ máy hành chính của Việt Nam trong ba năm để tặng cho tôi một chỗ đứng trong xã hội của họ, trong khi họ không chắc rằng tôi sẽ mang lại giá trị thặng dư gì cho đất nước Thụy sĩ. Cái đó, sau này tôi mới hiểu đó là quyền làm người, một khái niệm mà tôi đã cần hơn ba mươi năm để hiểu giá trị của nó.

Trong lịch sử ngoại giao của Thụy Sĩ, hồ sơ hôn nhân của tôi chắc hẳn phải là hồ sơ dày nhất trong tất cả với những công văn, những đơn từ, cả đến các chuyến viếng thăm của Đại sứ thụy sĩ đến Bộ ngoại giao tại Hànội, các chồng đơn mà Kurt đã viết cho Bộ ngoại giao thụy sĩ. Và cũng tương tự, ở Việt Nam, hồ sơ đám cưới của tôi cũng là hồ sơ dày nhất, và những đơn từ mà cha mẹ tôi đã giúp chuyển cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các buổi thẩm tra của Công an phường, quận, thành phố, Sở ngoại vụ, Đại sứ quán Vietnam tại Thụy sĩ. Tôi là một trong năm người phụ nữ Việt Nam đầu tiên may mắn được cho phép cưới người ngoại quốc vào lúc bấy giờ, khi chưa có luật hôn nhân với người nước ngoài.

Đúng là câu chuyện tình của tôi xứng đáng dược xếp vào hàng « huyền thoại Tấm Cám thời dài thế kỷ thứ 20 » mà thế giới bên ngoài thường gọi là Cinderella, hay « nàng công chúa lọ lem ».

Một lần nữa, khi nghĩ lại thời gian này, tôi thầm cảm ơn Trời Phật đã một lần nữa thu xếp cho các trình tự của những khúc quanh đầy ngẫu nhiên của cuộc đời thành một chuỗi trình tự song suốt, cảm ơn sự mãnh lực của tình yêu vượt không gian và thời gian của chính Kurt và tôi, cảm ơn lòng vị tha và nhân bản của hằng hà sa số những người mà tôi đã được diễm phúc gặp gỡ trong cuộc sống và nhân lành đã được ban phát cho tôi qua họ, và qua đó cho gia đình tôi và những người thân cùng đã đón nhận sự kỳ diệu của cuộc sống để có được ngày nay…

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s