PGS.Hoàng Dũng: Lập luận án tại hồ sơ đã hoàn toàn sụp đổ!

PGS.Hoàng Dũng

Trong một bài trả lời phỏng vấn vietnamnet.vn (1), GS TSKH Trần Ngọc Thêm, Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học, khẳng định: “Theo tinh thần “án tại hồ sơ” thì hồ sơ của ứng viên Nguyễn Đức Tồn năm 2009 không chứa các công trình mà dư luận hiện nay cho là có đạo văn (các chuyên khảo và giáo trình cũ đều đã được thay thế)”. Đây là lý do để phiên họp ngày 13/6/2018 của Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học cho rằng kết luận của Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học năm 2009 về việc hồ sơ của ứng viên Nguyễn Đức Tồn đáp ứng đủ các tiêu chuẩn công nhận chức danh Giáo sư do Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước ban hành là đúng.


Quan điểm này không thuyết phục, vì vấn đề không phải chỉ khuôn trong phạm vi hồ sơ ông Nguyễn Đức Tồn nộp để xét chức danh Giáo sư, mà phải xem xét cả những công trình trước đó của ông Nguyễn Đức Tồn bị tố cáo đạo văn, để chắc chắn ông là người trung thực như mục 2, điều 8 của QUY ĐỊNH TIÊU CHUẨN, THỦ TỤC BỔ NHIỆM, MIỄN NHIỆM CHỨC DANH GIÁO SƯ, PHÓ GIÁO SƯ số 174/2008/QĐ-TTg đòi hỏi.


Nhưng cho dẫu chấp nhận với những gì ông Nguyễn Đức Tồn trình cho Hội đồng năm 2009, hay nói như GS TSKH Trần Ngọc Thêm (Them Tran) là “án tại hồ sơ”, thì cái hồ sơ này cũng không tẩy rửa hết dấu bùn đạo văn của ông Nguyễn Đức Tồn. Bài sau đây trên báo Phụ nữ thủ đô đưa ra những bằng chứng không thể chối cãi.


Như thế, cái lập luận cuối cùng để bênh vực cho việc công nhận hồ sơ của ứng viên Nguyễn Đức Tồn đáp ứng đủ các tiêu chuẩn công nhận chức danh giáo sư đã hoàn toàn sụp đổ.


Trong một thế giới phù hợp với trí tưởng tượng thông thường, thì những kẻ đạo văn như ông Nguyễn Đức Tồn vĩnh viễn không còn một chỗ đứng nào trong giới khoa học.
Ở ta, bao giờ đến ngày đó? Bao giờ chúng ta trở lại thế giới bình thường?

PGS.Hoàng Dũng/fb

Chú thích:

1) http://vietnamnet.vn/…/ho-so-gs-cua-ong-nguyen-duc-ton-khon…


PNTĐ-Các nhà ngôn ngữ học chân chính lại vừa phát hiện ra trong hồ sơ ông Tồn được xét phong Giáo sư vẫn là… đạo văn!

Khi vụ đạo văn đầy tai tiếng của GS.TS Nguyễn Đức Tồn bị công luận trình ra ánh sáng, ông Tồn bèn viết đơn gửi lên Thủ tướng xin niêm phong hồ sơ xét phong GS cho ông năm 2009 để xem xét cho khách quan. Dư luận lúc này cũng như các vị GS trong 3 cấp Hội đồng Chức danh GS đã từng bỏ phiếu đồng ý phong GS cho ông Tồn năm 2009 nhầm tưởng “thế là có lẽ hồ sơ năm 2009 đã được ông Tồn làm sạch, như là ông đã biết hối lỗi”. Nhưng than ôi! Sự thật oái oăm lại trái ngược: các nhà ngôn ngữ học chân chính lại vừa phát hiện ra hồ sơ ông Tồn được xét phong GS vẫn là… đạo văn!
Sau hai lần bị Hội đồng Chức danh Giáo sư phát hiện hồ sơ xin xét phong GS của ông Tồn là đạo văn nên đánh trượt vào các năm 2002 và 2006, ông Tồn lần thứ 3 nộp hồ sơ xét phong GS năm 2009. Chắc quá sợ Hội đồng CDGS Cơ sở tại Viện Ngôn ngữ học phát hiện gian dối đạo văn, lần này ông Tồn đã nộp hồ sơ tại Khoa Ngôn ngữ – ĐH XH&NV (ĐHQGHN) và lần này ông Tồn đã rút bỏ khỏi hồ sơ các cuốn sách đạo văn đầy tai tiếng, mà thay bằng hai cuốn sách khác, là: “Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy-học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003) và “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” (NXB  Khoa học Xã hội, 2006). Kết quả là ông Tồn được Hội đồng Chức danh giáo sư công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, với lí do “nhân văn” và xét thấy hồ sơ năm 2009 “không có công trình đạo văn”. Thế nhưng, chúng tôi vừa phát hiện hai cuốn sách – hai công-trình-khoa-họctrong bộ hồ sơ GS năm 2009 của ông Tồn cũng đều có nội dung đạo văn!
Từ giáng cấp vai trò của đồng tác giả
Cuốn sách thứ nhất trong hồ sơ phong giáo sư năm 2009 của ông Nguyễn Đức Tồn là “Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy-học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003). Trong cuốn sách này, ông Tồn đưa vào 3 bài viết mà ông chỉ là đồng tác giả. Đó là các bài “Đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người” viết chung với Huỳnh Thanh Trà trong tạp chí Ngôn ngữ  số 3/1994 (tr. 53-60); “Thủ pháp nhận diện và phân biệt từ láy với từ ghép có hình thức ngữ âm giống từ láy” viết chung với Nguyễn Thị Thanh Hà trong tạp chí Ngôn ngữ  số 7/2000 (tr. 56-61), và bài “Dạy từ trái nghĩa cho học sinh trung học cơ sở” viết chung với Nguyễn Thị Kim Dung trong tạp chí Ngôn ngữ  số 3/2001 (tr. 57-61).
Trên giấy trắng mực đen, ông Tồn là đồng tác giả của 3 bài viết trên và chỉ có quyền lợi ngang bằng với các đồng tác giả kia. Theo các quy định hiện hành trong Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan thì không ai có quyền xâm phạm tác quyền của người kia trong việc sử dụng và trích dẫn tác phẩm. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là ông Tồn đã ghi nhận đóng góp của các đồng tác giả với ông theo 3 cách khác nhau trong cuốn sách kể trên.
Cụ thể, bài viết chung với Huỳnh Thanh Trà (có rút gọn) xuất hiện trong cuốn sách “Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy-học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường” từ trang 205-210. Ông Tồn chú ở cuối trang “Mục này có sự tham gia của Huỳnh Thanh Trà”.
Bài viết chung với Nguyễn Thị Thanh Hà xuất hiện từ trang 107 đến 114 được ông Tồn ghi chú ở cuối trang “Mục này được hoàn thành dựa trên bài viết chung với Nguyễn Thị Thanh Hà”.
Bài viết chung với Nguyễn Thị Kim Dung xuất hiện từ trang 211 đến 220 được ông Tồn chú thích ở cuối trang là “Mục này có sự cộng tác của Nguyễn Thị Kim Dung”.
Như vậy, ở đây, mặc dù chỉ là đồng tác giả nhưng ông Tồn chỉ thừa nhận một “bài viết chung” với Nguyễn Thị Thanh Hà. Hai đồng tác giả còn lại đều bị giáng cấp thành người cộng tác và người tham gia cùng. Đây là một biểu hiện của việc không chú nguồn phù hợp. Theo các quy định về đạo văn trên thế giới thì việc không chú nguồn phù hợp và cung cấp thông tin không chính xác về tác giả cũng được xem là một hình thức đạo văn.
Đến xoá bỏ vai trò của đồng tác giả
Không chỉ dừng lại ở việc giáng cấp đồng tác giả, ông Tồn còn ngang nhiên xoá bỏ vai trò của người viết chung với mình. Việc xoá bỏ vai trò đồng tác giả là một chiêu thức đạo văn mà ông Tồn đã vận dụng nhiều lần và đã bị PNTĐ phanh phui trong nhiều bài trước.Tuy nhiên, thật trớ trêu là chiêu thức đạo văn này không phải chỉ xuất hiện trong các công trình của giai đoạn “tiền giáo sư” và “hậu giáo sư” mà xuất hiện ngay trong hồ sơ xét phong giáo sư năm 2009 của ông Tồn.
Đó là trường hợp bài viết chung với tác giả Huỳnh Thanh Trà có nhan đề “Đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người” in trong tạp chí Ngôn ngữ năm 1994. Bài viết này đã bị ông Tồn đem xào đi xáo lại liên tục không dưới… 8 lần trong các cuốn sách khác nhau của ông.Lại một con số kỉ lục khác!
Đầu tiên, nó xuất hiện trong giai đoạn “tiền giáo sư” của ông Tồn trong cuốn sách “Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường: Phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở” (NXB Đại học Quốc gia, 2001) từ trang 156 đến trang 181. Ông Tồn chỉ ghi nhận bà Huỳnh Thanh Trà “có sự cộng tác”, chứ không phải viết chung hay đồng tác giả.
Tiếp đó, lại chính bài viết này làm thành một chương trong cuốn sách đầy tai tiếng “Tìm hiểu đặc trưng văn hoá-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002). Trong cuốn sách này, ông Tồn không hề có một dòng nào chú giải về đóng góp của đồng tác giả Huỳnh Thanh Trà.
Đây chính là hai cuốn sách đạo văn trong hồ sơ xét phong GS năm 2002 và 2006 của ông Tồn đã bị HĐCDGS phát giác và ứng viên Nguyễn Đức Tồn đã bị đánh trượt.
Khi ông Tồn cho xuất bản cuốn sách “Đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy” vào năm 2008,tên của bà Huỳnh Thanh Trà cũng biến mất một cách khó hiểu. Bài viết đồng tác giả với bà Huỳnh Thanh Trà vẫn chễm chệ ở cuốn sách này trong hai lần tái bản có bổ sung sửa chữa vào các năm 2010 và 2015, và tên bà Huỳnh Thanh Trà vẫn không được xuất hiện. Chưa hết, cũng chính bài viết này lại lù lù xuất hiện trong cuốn sách“Những vấn đề của Ngôn ngữ học cấu trúc dưới ánh sáng lí thuyết Ngôn ngữ học hiện đại” (NXB Khoa học Xã hội, 2013) và tên của đồng tác giả Huỳnh Thanh Trà cũng hoàn toàn bị phớt lờ. Như thế, tổng cộng 6 lần tên bà Huỳnh Thanh Trà bị xóa bỏ, bên cạnh 2 lần tên bà bị giáng cấp).
Quay trở lại bộ hồ sơ xét phong Giáo sư năm 2009 của ông Tồn, bài viết này cũng lại được nhồi nhét vào cả hai cuốn sách đưa vào hồ sơ xin phong GS, đó là “Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy-học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003) và “Từ đồng nghĩa tiếng Việt”(NXB  Khoa học Xã hội, 2006).
Trong cuốn “Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy-học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003), phần bài viết chung với Huỳnh Thanh Trà chỉ được ông Tồn ghi chú theo lối “giáng cấp” đồng tác giả như đã nói ở trên. Tiếp đó, cũng chính bài viết này lại được ông Tồn rút gọn và bê vào cuốn sách “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” (NXB Khoa học Xã hội, 2006) từ trang 237 đến 242. Tuy nhiên, lần này, ông Tồn không hề chú bất kì một dòng nào về đóng góp của bà Huỳnh Thanh Trà nữa.
Tạm gạt sang một bên câu chuyện một bài nghiên cứu được “nhai đi nhai lại” đến gần chục lần trong hàng loạt các cuốn sách khác nhau (theo thống kê của chúng tôi cho đến nay là 8 lần)thì việc ông Tồn không chú nguồn phần viết chung với bà Huỳnh Thanh Trà trong cuốn sách “Từ đồng nghĩa tiếng Việt”(2006)là minh chứng hùng hồn và không thể chối cãi cho thấy bộ hồ sơ xét phong giáo sư năm 2009 của ông Tồn có những biểu hiện đạo văn rõ ràng, chứ không phải là một bộ hồ sơ “sạch” như nhận định trước đây của một số người, cụ thể là của các thành viên trong Hội đồng Chức danh GS ngành Ngôn ngữ học năm 2009.
Điều đó cũng cho thấy rằng Hội đồng Chức danh giáo sư ngành Ngôn ngữ học năm 2009 đã phạm phải sai sót lớn khi bỏ lọt biểu hiện đạo văn ngay trong chính bộ hồ sơ nộp năm đó của ứng viên Nguyễn Đức Tồn. Ngoài ra,như PNTĐ và nhiều tờ báo khác đã khẳng định, Hội đồng cũng đã mắc sai lầm khi bỏ qua khía cạnh đạo đức của việc đạo văn liên tục và có hệ thống của ông Tồn để công nhận chức danh giáo sư cho ông này vào thời điểm 2009.
Chính những sai lầm này đã góp phần “tiếp thêm sức mạnh” để ông Tồn, sau khi được phong Giáo sư, tiếp tục công cuộc… đạo văn đầy tham vọng của mình, làm băng hoại những giá trị cao quý của học thuật và làm xói mòn niềm tin vào một nền khoa học-giáo dục trong sạch, trung thực và hướng thiện. Trên Vietnamnet.vn gần đây, nhà báo Uông Ngọc Dậu đã nhận định rất đúng rằng “Phải coi hành vi đạo văn trong học thuật cũng tương tự hành vi trộm cắp, tham ô trong xã hội, để tỏ thái độ căm ghét, lên án và ngăn ngừa, xử lý, triệt trừ”.
Vậy mà thật khó hiểu khi những cơ quan có trách nhiệm như Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước và Bộ GD-ĐT vẫn “bình chân như vại” để những cái xấu, cái ác cứ nghênh ngang kiếm lời và thách thức dư luận trong suốt một thời gian dài!
Nguyễn Minh Anh/ Báo Phụ Nữ
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s