Chính phủ ngưng cấp chiếu khán cho giáo sư đầu ngành mà không nói lý do

38907532_10156762797444736_2378751818525048832_n.jpg

Sau khi gởi đăng bài bút ký 2 trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tôi trở sang Bỉ ngay. Tại đây tôi nhận được một tin vui qua văn thư chính thức: Cục hợp tác quốc tế Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp (Commissariat Général des Relations Internationale de la Communaité Française de Belgique, CGRI) chấp nhận tài trợ dự án giúp đỡ các đại học Việt Nam đào tạo nghiên cứu sinh trong ba năm. Dự án này do chính tay tôi phác thảo, không lớn vì mỗi năm chỉ có một giáo sư Bỉ qua Việt Nam làm seminar 15 ngày, một kỹ sư Việt Nam sang Bỉ một năm để chuẩn bị và bảo vệ luận văn thạc sỹ, một đồng nghiệp Việt Nam sang Bỉ một tháng để tham khảo viết lại giáo trình hay trao đổi nghiên cứu khoa học. Dự án có một sáng kiến mới: 10 học bổng dành cho nghiên cứu sinh Việt Nam nhận đề tài nghiên cứu từ giáo sư Bỉ và làm việc tại Việt Nam. Đây là ý tưởng ban đầu của mô hình mới về hợp tác quốc tế: mô hình du học tại chỗ.

Xin nhắc lại bối cảnh. Bây giờ là mùa thu năm 1991. Tháng 11/1989 bức tường Bá Linh sụp đổ, tháng 12 vợ chồng Ceaucescu lãnh đạo nước Romania bị hành quyết, chế độ toàn trị độc tài nước này bị cáo chung. Tháng 8/1991 Liên bang Xô Viết sụp đổ sau cuộc đảo chính thất bại, Eltsine lên cầm quyền nước Nga mới… Thế giới Xã hội chủ nghĩa hiện thực đang chao đảo…

Để nhà tài trợ nhanh chóng giải ngân, tôi quyết định trở lại Việt Nam ngay để chuẩn bị triển khai dự án. Lên sứ quán Việt Nam làm chiếu khán về Việt Nam theo thông lệ, tôi bất ngờ được thông báo miệng: Chính phủ Việt Nam quyết định ngưng cấp chiếu khán cho tôi mà không nói lý do. Tôi rất đỗi ngỡ ngàng, cứ nghĩ đây là một sự nhầm lẫn. Tôi nhờ bạn bè tại Việt Nam, tại Paris, Montréal, Tokyo, Mexico …, có chân trong các Ban chấp hành những hội người Việt thân chính quyền dò la can thiệp. Mọi cố gắng không đem lại kết quả. Nguồn tin rất đáng tin cậy cho tôi hay: đây là quyết định đến từ cơ quan cao nhất của nhà cầm quyền. Không phải chỉ mình tôi mà đông đảo các nhân Việt kiều yêu nước khác cũng cùng chung số phận. Lý do rất rõ: Chúng tôi những Việt kiều đã tham gia các phong trào yêu nước khắp năm châu cùng ký chung một «Tâm thư» khẩn nguyện Đảng Cộng sản Việt Nam đổi mới chính trị, tránh cho Việt Nam những đỗ vỡ như ở Liên Xô, Romania… Bản văn đã thu thập được trên tám trăm chữ ký. Dĩ nhiên là biện pháp trừng phạt chỉ áp dụng cho thành phần đứng ra đề xướng. Tôi ở Bỉ nghe anh em kêu gọi qua điện thoại là đồng ý ngay. Không ngờ tên tôi lại được sắp là ba người đầu tiên đồng ý ký tại Bỉ. Và khi búa rìu dáng xuống là trúng ngay đầu tôi, trong giai đoạn cần thiết nhất phải về Việt Nam thực thi hai dự án, một dự án do Cộng đồng các nước tiếng Pháp tài trợ (FICU, Montréal) còn đang dang dở và một dự án khác do CGRI (Bruxelles) mới vừa chấp nhận tài trợ.

Chúng tôi đã mua vé máy bay, đã chuẩn bị giấy phép đi công tác của Hiệu trưởng Đại học Liège mà chỉ có vợ tôi nhận được VISA. Ngày đưa vợ tôi lên sân bay gặp các doanh nhân Việt kiều (hàng Việt đã bắt đầu xuất cảng sang Bỉ, đại bộ phận là hàng ăn uống) hớn hở tấp nập lên máy bay, tôi không khỏi bùi ngùi xót xa cho thân phận của một nhà khoa học, một giáo sư đại học người Việt Nam, một trí thức, một loại người hay xớ rớ có tật lo xa, quan tâm đến những chuyện chẳng có gì là thiết thực cho bản thân. Về được Việt Nam, vợ tôi thường tích cực đi tìm gặp các ban bệ, các quan chức liên quan đến Việt kiều nhờ can thiệp nhưng không có kết quả. Cô ấy đau xót viết thư điện tử cho tôi hay là trong lúc này tình đời đã đổi thay. Tôi đã bị dư luận coi là thành phần đa nguyên đa đảng, một số người ngại liên lụy làm ngơ… Các cánh cửa đổi mới tư duy đang được khép lại.

Tại Bỉ tôi được triệu tập lên Bruxelles để làm việc với cơ quan chức năng. Buổi họp có mặt đương kim Chủ tịch Hội người Việt yêu nước và Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán. Họ yêu cầu tôi làm giấy kiểm điểm. Tôi không đồng ý vì thấy không có lý do bắt tôi phải kiểm điểm cả. Họ bảo tôi nên làm vì nếu không, sinh mệnh chính trị của tôi sẽ bị tổn hại. Đây là lần đâu tiên tôi được nghe bàn đến sinh mệnh chính trị của tôi. Té ra tôi có một sinh mệnh chính trị mà người khác đang nắm trong tay và họ sẵn sàng tiêu hủy nó nếu tôi không thuần phục. Tôi ý thức ngay tầm quan trọng của buổi làm việc và chợt nhận ra một thủ thuật, một chính sách quản lý con người không giống ai và tôi chưa từng hay biết. Nó hơi ra ngoài những gì tôi chờ đợi, tưởng tượng. Tôi cố gắng giữ bình tĩnh, suy nghĩ vài giây, rồi ôn tồn phát biểu :

– « Trước nhất tôi không có tham vọng chính trị, không làm chính trị mà chỉ làm khoa học, giáo dục nên tôi chẳng cần phải mất công bảo vệ cái sinh mệnh ấy. Tôi vốn là người trí thức độc lập tự do, không quan tâm đến quyền lực và tôi sẽ rất bằng lòng với cương vị ấy trong cả cuộc đời tôi. Thứ đến đừng bao giờ đòi hỏi tôi phủ nhận những bài tôi đã viết về Việt Nam, đừng đòi hỏi tôi rút tên ra khỏi danh sách những anh em đã ký « Tâm thư » và « Thư ngỏ cho Đảng Cộng sản Việt Nam ». Tôi sẽ không bao giờ làm ngược lại những gì tôi đã quyết định. Và tôi chỉ đã hành động theo lương tâm của tôi, một công dân có tinh thần trách nhiệm, không ai có thể lung lạc hay lợi dụng tôi được cả. Tôi chỉ tiếc là đã nói lên những ý kiến này hơi trễ. Lẽ ra tôi phải nói ra mười năm trước đây… Cũng minh định cho rõ, đây là những kiến nghị, nghe hay không nghe là thuộc thẩm quyền nhà cầm quyền… Nội dung này nếu cần tôi sẽ viết ra văn bản và chính thức đặt chữ ký ».

Và tôi đã rời buổi họp sau lời tuyên bố trên.

Thắm thoắt gần một năm rồi mà VISA về Việt Nam của tôi vẫn chưa có. Tôi bắt đầu lo vì triển khai giải ngân không kịp sau một năm là mất ngân sách. Tôi quyết định xin một cái hẹn với ông Roger Dehaybe giám đốc CGRI. Ông này là một chính khách quan trọng tại Bỉ sau này lên đến chức Tổng Giám đốc cơ quan liên chính phủ Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp (Administrateur général de l’Agence intergouvernementale de la Francophonie, 1997-2005). Khi còn là sinh viên ông này ở chung cư xá sinh viên với tôi và chúng tôi đã có sinh hoạt chung trong những ngày sôi nổi tổ chức biểu bình đòi hoà bình cho Việt Nam, những năm cuối 60 đầu 70. Nghe tôi trình bày sự việc, ông không giấu được bất bình. Ông nói : « Một người Việt Nam như ông Hưng mà không cho về Việt Nam hợp tác giáo dục đào tạo thì ai sẽ có thể là người có được VISA đi Việt Nam ?». Ông bảo tôi là ông sẽ tham khảo chính phủ Bỉ và sẽ có phản ứng mạnh mẽ gởi chính phủ Việt Nam về việc này.

Chỉ ba ngày sau là tôi nhận được bản sao của thư CGRI chính thức gởi cho chính phủ Việt Nam. Tôi nhớ có câu: Yêu cầu chính phủ Việt Nam đưa ra lý do chính đáng vì sao không cấp VISA cho GS Hưng. Còn nếu không có lý do mà tiếp tục gây khó khăn cho GS Hưng thì chính phủ Bỉ sẽ có biện pháp thoả đáng tương ứng đối với tất cả những nhà khoa học, nhà văn hoá Việt Nam phải đi qua Bỉ. Chính phủ Bỉ cũng sẽ trình cho Cộng Đồng Châu Âu để cùng phối hợp hành động đối với Việt Nam về việc qua lại nhân sự hợp tác giữa toàn Châu Âu và Việt Nam.

Một tuần sau là Đại Sứ quan Việt Nam mời tôi lên lấy VISA, cũng chẳng có lời giải thích như khi không cấp VISA.

Tôi lại khăn gói lên đường và mở mang một giai đoạn hợp tác dài thêm 16 năm cho đến ngày nghỉ hưu.
Nhưng về Việt Nam mở trung tâm đào tạo quốc tế ở giai đoạn đầu những năm 90 là một công việc không đơn giản. Tôi còn phải can qua rất nhiều chướng ngại, bất trắc từ nhiều phía, ngay cả ở những phía không ngờ trước được…

Tôi sẽ dần dần chi tiết hoá sự việc ở những hồi sau.

Liège ngày 28/9/2010

Nguyễn Đăng Hưng
___________________________________________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s