Lựa chọn của trí thức qua trường hợp Nguyễn Văn Huyên

38828298_2107018256213168_886382873668485120_n.jpg
Ảnh: Nguyễn Văn Huyên (wikipedia)

Đi Hà Nội chuyến này, mình ấp ủ ý định đến Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên. Nhưng sau đó mới biết đây là một bảo tàng tư nhân do gia đình cụ thành lập, chỉ mở cửa vào cuối tuần, nên đành bỏ lỡ. Mình đã huyên thuyên với chồng mình về những “thành tích” của cụ như là nhà dân tộc học lớn nhất VN, là người Đông Dương đầu tiên bảo vệ xuất sắc 2 luận án tiến sĩ “Hát đối đáp của nam nữ thanh niên Việt Nam” (luận án chính) và “Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông Nam Á” (luận án phụ) (1934) (đều bằng tiếng Pháp) của Đại học Sorbonne – trường Đại học có lịch sử lâu đời nhất ở Pháp, là người châu Á duy nhất là thành viên khoa học Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (tính đến cho đến khi Viện ngừng hoạt động tại Đông Dương sau sự kiện Nhật đảo chính ngày 9/3/1945)- cơ quan nghiên cứu Đông phương học hàng đầu thế giới (vốn rất “chảnh” và chảnh cũng đúng).., là Bộ trưởng Bộ giáo dục đầu tiên của Việt Nam. Lúc ấy, chồng mình (dân ngoại đạo hehe) nói rằng: “Sao nhà khoa học giỏi vậy lại đi làm Bộ trưởng?”. Lúc đó mình chỉ có thể trả lời đơn giản “Thì thời cuộc nó thế”. Tuy nhiên câu hỏi có phần “ngây thơ” đó mình vẫn giữ trong lòng. Hôm nay mình đọc một số bài báo rất hay của các chuyên gia đầu ngành về Nguyễn Văn Huyên thì được biết lựa chọn chính trị của Nguyễn Văn Huyên là một vấn đề gây tranh luận trong giới học thuật. Mình xin trích dẫn ở đây 2 quan điểm trái chiều, từ 2 học giả mà mình ngưỡng mộ, mà sự sâu sắc của nó rất đáng suy ngẫm:

Ý kiến đầu tiên là của Đỗ Lai Thúy: “Cách mạng tháng Tám đưa cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Văn Huyên rẽ sang một hướng khác. Luận thuyết Marxist coi cách mạng là một ngày hội, ở khía cạnh nào đó, có lẽ đúng. Người nông dân, kể cả người trí thức, tham dự vào hội hè đó một cách rất tự nguyện, như không còn chính mình của ngày hôm trước nữa. Riêng với Nguyễn Văn Huyên, từ một trong những người lãnh đạo Hội Truyền bá Quốc ngữ chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ giáo dục tưởng như không có gì tự nhiên hơn. Nhất là từ khía cạnh hành đạo của các trí thức Nho giáo, hoặc trí thức Tây học đang muốn đóng góp cụ thể và việc giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Nhưng rồi với thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối, với chế độ Đảng đoàn ở các bộ, thì một nhân sĩ trí thức, tức trí thức ngoài đảng, như Nguyễn Văn Huyên chỉ còn là một biểu tượng, đúng hơn một tượng trưng, cho tinh thần cố gắng học tập của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà về cuối đời, bà Vi Kim Ngọc, phu nhân của cố Bộ trưởng, chua chát nói về sự kiện này: Nhà nước được thêm một vị bộ trưởng tồi, nhưng đất nước mất đi một nhà bác học lớn.” (Nhân học ở Việt Nam, Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo, NXB Tri Thức, 2016, tr. 86)

Ý kiến trái chiều mà mình quan tâm là của nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến (Viện Văn học) nằm trong bài viết “Trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20: Trường hợp Nguyễn Văn Huyên đối diện với sự kiện Hát đối đáp” (sách đã dẫn, tr.123-142). Trong bài viết này, Nguyễn Mạnh Tiến chỉ ra tầm vóc của công trình “Hát đối đáp của nam nữ thanh niên” (luận án TS bằng tiếng Pháp tại ĐH Sorbonne của Nguyễn Văn Huyên) mà trước nay chưa được chú ý đúng mức. Lựa chọn viết về “Hát đối đáp” trong môi trường học thuật quốc tế (tiếng Pháp), trong bối cảnh Việt Nam là một nước thuộc địa là một lựa chọn đầy tính dân tộc của Nguyễn Văn Huyên, nhằm xác lập một bản sắc Việt Nam khác với Trung Hoa và khác với phương Tây. Thời điểm đó, Việt Nam vẫn bị phương Tây xem như một bản sao khiếm khuyết của Trung Hoa, cũng như quan điểm “dĩ Âu vi trung” vẫn khiến cho khoa học phương Tây nhìn về các nền văn minh “man dã” (như Việt Nam) là “thấp kém”. Đầu TK20, trong bối cảnh thuộc địa, đã nảy sinh một thế hệ trí thức tinh hoa như Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Trương Tửu… quan tâm đến folklore, ca dao, tục ngữ để xây dựng chủ nghĩa dân tộc. “Hát đối đáp của nam nữ thanh niên” là một bước đệm, để từ đó đưa Nguyễn Văn Huyên đi đến một khẳng định có tính khái quát về “Văn minh Việt Nam” trong công trình cùng tên (Đây là 1 cuốn sách giáo trình, kiểu như “Cơ sở văn hóa Việt Nam” trong trường ĐH bây giờ vậy). Mục tiêu của công trình “Văn minh Việt Nam” là thiết định một mô hình văn minh khác với “văn minh Trung Hoa” và “văn minh phương Tây”, tiến đến một tiếng nói tự trị cho Việt Nam trong bối cảnh thuộc địa về chính trị, lép vế về học thuật.

Từ khẳng định về tầm vóc của “Hát đối đáp” nói riêng và các công trình của Nguyễn Văn Huyên như trên, Nguyễn Mạnh Tiến nhận xét về quyết định bỏ nghiên cứu đi làm chính trị, giáo dục (Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong 28 năm (1946-1975), từ năm ông 42 tuổi đến khi mất năm 70 tuổi ) của Nguyễn Văn Huyên như sau:

“Lựa chọn làm chính trị, giáo dục của ông sau này, do vậy, phần nào đấy, có thể tư duy vẫn “thuộc mô hình dân tộc ẩn giấu” chứ không hẳn là một quyết định đột ngột. Về mặt tư duy học thuật, sự tự tôn văn hóa và bằng tài năng kiệt xuất của mình, Nguyễn Văn Huyên đã hệ thống nên mô hình Việt Nam hoàn chỉnh trong tư cách một mô hình văn minh, tồn tại ngang hàng với mọi mô hình văn minh trên thế giới. Đường đi đến mô hình văn minh Việt Nam của ông vừa thống nhất, vừa lớp lang bài bản. Về mặt hành động, cải tổ thực tại, ông đã chọn lựa làm bộ trưởng Bộ Giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhằm canh tân dân tộc nghèo khó về mặt dân trí vừa giành được độc lập. Lựa chọn học thuật của Nguyễn Văn Huyên đã đưa ông lên hàng địa vị một nhà bác học có tầm cỡ, không chỉ Việt Nam mà còn vượt ra ngoài Việt Nam. Còn lựa chọn chính trị của Nguyễn Văn Huyên, thì vẫn còn đó nhiều ý kiến trái chiều” (Sách đã dẫn, tr.139).

Và phải chăng, với sự chia sẻ với quyết định đó mà PGS.TS. Nguyễn Văn Huy, con trai của Nguyễn Văn Huyên đã tổ chức và trưng bày bảo tàng về cha mình theo 4 chủ đề với cách đặt tên sâu sắc và rất gợi: “Nền tảng gia đình”, “Tuổi trẻ của bố mẹ”, “Bố chúng tôi – một nhà bác học”, “Bố chúng tôi – một người hành động”.

Đọc về trí thức trước thời cuộc là một sự đọc đầy cảm khái. Nhưng mình ao ước mình không chỉ dừng lại ở sự cảm khái mà có thể làm gì đó, vì mình tin đã là trí thức chân chính thì họ đã rất “hiện sinh” (dám chọn và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình). Mình thì 30 tuổi, bé nhỏ, 2 con, năng lực có hạn hihi, nên mong rằng “Có những lúc ngã lòng, tôi vịn cuộc đời các cụ mà đứng dậy” (mượn ý thơ Phùng Quán).

Lê Thanh Vy/fb

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s