Khi con bò thành giáo sư tiến sĩ

38068038_10217043594071368_6073741045454077952_n.jpg

Các bạn đọc bài viết này. Đủ hay. Tôi chỉ bình luận thêm mấy dòng.

Ông Tồn đạo văn của cả loạt giáo sư tiến sĩ khác, trừ mấy ông đã chết, còn lại những ông đang sống đâu không thấy lên tiếng? Hay những bản được cho là gốc ấy cũng đạo văn nên buộc phải im lặng?

Cách ăn cắp từ nguyên con đến xào nấu tùy tiện từng thuật ngữ, câu văn như vậy chỉ có thể là… con bò! Xin lỗi, xúc phạm con bò!


Khi con bò thành giáo sư tiến sĩ thì nó chỉ biết nhai đi nhai lại. Như tôi từng luận: bò ăn cỏ ỉa ra phân, phân nuôi cỏ rồi cỏ lại nuôi bò. Nền giáo dục này nó thế!


Ông Hoàng Ngọc Hiến nói đúng. Dắt con bò sang Liên Xô khi về nước nó trở thành giáo sư tiến sĩ… bò.


Hội đồng giáo sư nhà nước từng xét phong giáo sư cho ông Tồn bây giờ đang ở đâu? Sợ ông Tồn tố ngược sao? Nếu không sợ thì ít nhất cũng ọ lên một tiếng cho thiên hạ biết là đang còn sống để xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ ạ?
Chủ nghĩa xã hội đồng hóa bò với người và xem của thiên hạ cũng là của mình nên bất tuân luật sở hữu trí tuệ chăng?


Tôi đề nghị, nếu Hội đồng giáo sư nhà nước và ông Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ không chịu tước hàm giáo sư của ông Tồn thì hãy phong thêm cho ông Tồn: Trí thức tiêu biểu, đại diện xuất sắc của học thuật Việt Nam!

TS.Chu Mộng Long


Phát hiện cuốn sách đạo văn mới của GS.TS Nguyễn Đức Tồn: Chiêu trò đạo văn “có một không hai” của một “chuyên gia” về “từ đồng nghĩa”

Sách dạy Nghiên cứu sinh hay… “hàng nhái”?

Chúng tôi đã tiếp cận với cuốn sách “Những vấn đề của Ngôn ngữ học cấu trúc dưới ánh sáng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại” của GS.TS Nguyễn Đức Tồn. Sách do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào năm 2013. Đây chính là cuốn sách đã bị báo Phụ nữ Thủ đô chỉ mặt điểm tên là “đạo văn” (http://baophunuthudo.vn/article/27864/165/phat-hien-them-mot-cuon-sach-dao-van-cua-ong-nguyen-duc-ton), với đường link cuối bài dẫn chiếu đến 43 trang sách đạo văn của ông Tồn.

Xem xét công trình này, chúng tôi nhận thấy ông Tồn đã cóp nhặt một cách tinh vi và liều lĩnh từ ít nhất 4 nguồn/tác giả, bao gồm Từ điển bách khoa trực tuyến Wikipedia tiếng Việt, Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 1), bài báo của Đỗ Lai Thúy, giáo trình của Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán.

Ông Nguyễn Đức Tồn là một “chuyên gia” về vấn đề “từ đồng nghĩa”. Bản thân ông đã xuất bản hẳn một chuyên khảo có nhan đề “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” (Nxb Khoa học Xã hội, 2006). Cuốn này là một trong hai cuốn đã được khai trong hồ sơ xin phong GS năm 2009, thay cho hai cuốn sách bị tố đạo văn trước đó. Những tưởng ông sẽ áp dụng thành quả nghiên cứu về từ đồng nghĩa vào thực tiễn giảng dạy, hóa ra ông đã không làm vậy. Thay vào đó, ông lại áp dụng triệt để khả năng sử dụng “từ đồng nghĩa” vào việc “thuổng” công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp.

Để tránh bị phát hiện đạo văn, ông Tồn đã kì công sửa chữa từng đoạn văn một. Cách làm của ông thật đơn giản và dễ dàng như một… học sinh tiểu học được học về từ đồng nghĩa. Cụ thể, bằng các thay thế từ đồng nghĩa, ông sửa chữa câu cú, biến nội dung tri thức của tài liệu gốc thành của mình.

Ở đây, chúng tôi chỉ trích một vài ví dụ điển hình trong suốt hơn 3 chương của cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học – Tập 1” của hai tác giả Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (Nxb Giáo dục, 2001), đã bị “đạo” một cách không thương tiếc.

Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Tiếp đóngười nghiên cứu lại dùng cái chia cắt được đó thay thế vào một chuỗi khác, rồi lại hỏi người khảo chứng cái chuỗi mới có chấp nhận được không. Nếu người khảo chứng trả lời “được” như vậy, chắc chắn cái chia cắt được đó là một đơn vị” (trang 170).

Ông Tồn tô vẽ lại thành “Tiếp theonhà nghiên cứu lại dùng cái chia cắt được đó thay thế vào một chuỗi khác, rồi hỏi người khảo chứng cái chuỗi mới có chấp nhận được không. Nếu người đó trả lời “được” thì chắc chắn cái chia cắt được đó là một đơn vị” (trang 27).

Một độc giả bình thường nhất, sau khi xem hai câu này, cũng nhận ra đâu là “hàng nhái”. “Hàng nhái” này được tạo ra bằng chiêu thức đơn giản: phép thế từ đồng nghĩa. Ông Tồn, một chuyên gia về từ đồng nghĩa, đã tỉ mẩn thay thể “tiếp đó” bằng từ đồng nghĩa “tiếp theo”, “người nghiên cứu” bằng “nhà nghiên cứu”, “người khảo chứng” bằng “người đó”…

Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Trong ba mặt vật liệu, thể chất (chất liệu) hình thức thì vật liệu hoàn toàn nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ có thể chất và hình thức mới thực sự thuộc về ngôn ngữ. Bởi vậy khi nói về ngôn ngữ, chỉ cần nói đến sự đối lập thể chất và hình thức là đủ” (trang 188). Trong sách của mình, ông Tồn mông má thành: “Trong ba mặt: vật liệu, thể chất (chất liệu), hình thức thì vật liệu hoàn toàn nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ có thể chất và hình thức mới thực sự thuộc về ngôn ngữ. Do đó, khi nói về ngôn ngữ, chỉ cần nói đến sự đối lập thể chất và hình thức là đủ”.

Trong đoạn này, với tư cách là một biên tập viên dạn dày (ông đã nhiều năm làm Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ), ông Tồn đã cho thêm một dấu hai chấm, một dấu phẩy, in nghiêng một số thuật ngữ. Đồng thời, ông cũng không quên sử dụng ngón nghề tủ: phép thế đồng nghĩa. Ông “nâng tầm” tác phẩm của ông Châu và ông Toán bằng việc thay từ “bởi vậy” bằng từ… “do đó”.

Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Giả định có một hình thái phức (một kết cấu, một câu) do ba đơn vị A, B, C làm thành tố kế tiếp” (trang 170). Đến lượt mình, ông Tồn hùng hồn chữa: “Giả sử có một hình thái phức (một kết cấu, một câu) do ba đơn vị X Y Z làm thành tố kế tiếp”. Từ “A, B, C” biến thành “X Y Z”, từ “giả định” biến thành “giả sử”, phải chăng đó là một “phát kiến vĩ đại” của ông Tồn?

Với chiêu trò “kim thiền thoát xác” thông qua việc thay thế bằng từ đồng nghĩa, ông Tồn đã tút tát lại phần lớn các câu chữ của ông Châu và ông Toán, rồi thản nhiên bê cả ba chương này vào công trình của mình mà không thèm nhắc gì đến hai tác giả trên.

Dĩ nhiên, ông Tồn rất tỉnh táo để không làm sai lạc nội dung của tài liệu gốc. Ông chỉ thay thế những từ ngữ đồng nghĩa vô thưởng vô phạt, không làm suy suyển gì đến nghĩa của cả câu, chẳng hạn: “mặc dù vậy” thay bằng “tuy vậy”, “xem” thay bằng “coi”, “khi” thay bằng “nếu”, “tiếp nhận” thay bằng “tiếp thu”, “công trình” bằng “tác phẩm”, “như đã biết”  thay bằng “như đã nêu ở trên” v.v và v.v. Cho nên, sau lớp son phấn loẹt lòe che đậy của ngôn từ thì những luận điểm của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán vẫn được giữ y chang.

Cũng đôi khi, do câu cú của “hàng xịn” khó mà mông má được bằng từ đồng nghĩa, ông hoặc phải ngậm ngùi giữ nguyên hoặc phải viện đến chiêu thức khác. Ông tiến hành cắt bỏ dăm ba từ, hoặc thêm một vài từ, hoặc đảo một vài cụm từ, thậm chí đưa câu này lên trước câu khác… Chẳng hạn, trong sách gốc viết: “Phương pháp cấu trúc luận theo kiểu L.Hjelmslev như trình bày ở trên không chỉ có hiệu lực nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có tính phổ quát, có hiệu lực đối với việc nghiên cứu mọi hệ thống tín hiệu nói chung” (trang 191). Đến lượt mình, ông Tồn biến tấu: “Có thể thấy rằng phương pháp cấu trúc luận hiểu theo L.Hjelmslev như trên không chỉ có hiệu lực nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có tính phổ quát…” (trang 43).

Thậm chí, để cho không giống hoàn toàn với “hàng xịn”, ông nhấc luôn phần chú thích của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán thành đoạn chính văn… Chẳng hạn, ở trang 197, hai tác giả viết: “nhiệm vụ nghiên cứu các phương thức tuyến tính” và đặt chú thích ở cuối trang “còn gọi là phương thức ngữ đoạn (syntagmatique)”, thì ông Tồn bỏ đoạn chú thích, bê lên thành đoạn chính văn và đặt trong ngoặc đơn: “nghiên cứu các phương thức tuyến tính (còn gọi là phương thức ngữ đoạn (syntagmatique)” (trang 48).

Một tuyệt chiêu nữa trong thâm kế “kim thiền thoát xác” của ông Tồn có thể tìm thấy trong các ví dụ. Ở đây, ý đồ của ông Tồn rất rõ ràng. Có những ví dụ mang tính chuyên môn sâu, ông đành phải giữ nguyên. Nhưng với những ví dụ thông thường khác, ông “mô đi phê” đôi chút. Nhưng ông cũng không đủ tự tin để thay một ví dụ mới hoàn toàn, mà vẫn sử dụng những câu đồng nghĩa na ná “hàng xịn” để thay thế. Chẳng hạn, ví dụ trong sách của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán: “Người công nhân bạn tôi đang đọc báo” (trang 174) bị ông Tồn thay bằng “Người sinh viên bạn tôi đang đọc sách” (trang 30); “Anh ấy mua cặp, áo và giày” (trang 185) được thay bằng “Mẹ mua cho con sách, giấy, bút, mực” (trang 39)…

Ba sự thật từ cái đuôi cáo lòi ra…

Đã là “hàng nhái” thì đương nhiên không giống 100% “hàng xịn” và chất lượng thì đương nhiên cũng thua xa “hàng xịn”. Điều này đúng cả với việc đạo văn của GS Tồn trong cuốn sách này của ông.

Dù ông Tồn có biến báo giỏi đến đâu thì cái gót chân Achilles vẫn còn đó. Dù ông có thể nhuần nhuyễn trong việc sử dụng từ đồng nghĩa để tỉa tót câu chữ từ tác phẩm của người khác thì ông vẫn không che đậy được 3 sự thật hiển nhiên.

Sự thật đầu tiên là ông Tồn đã trắng trợn và tinh vi đạo văn của các ông Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Đỗ Lai Thúy… Việc này đã được báo Phụ nữ Thủ đô nêu rõ khi chiểu theo các định nghĩa về đạo văn cả trong nước và thế giới. Hành vi đạo văn của ông trong công trình này rõ ràng là có đạo văn có chủ đích, được ngụy trang một cách tinh xảo thông qua việc nhào nặn ngôn từ của các tác phẩm gốc và hoàn toàn không chú nguồn.

Sự thật thứ hai là ông Tồn còn làm biến dạng, méo mó và xấu xí tác phẩm gốc bằng việc mông má của mình. Ông có thể là chuyên gia về từ đồng nghĩa trong tiếng Việt, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc ông có thể áp dụng được với các ngoại ngữ. Gót chân Achilles của ông chính là ở đây.

Như báo Phụ nữ Thủ đô đã nêu, để cho khác với tác phẩm gốc, đôi chỗ ông Tồn cao hứng chú thích thêm cả tiếng nước ngoài vào một số chỗ. Nhưng hãy xem ông chú thích tiếng nước ngoài ra sao? Cặp lưỡng phân nổi tiếng của Saussure là langue/parole (ngôn ngữ/lời nói) bằng tiếng Pháp bị ông nhào nặn thành một cặp ngớ ngẩn “language/parole” (trang 18), tức “langue” (tiếng Pháp) được thay bằng “language” (tiếng Anh) và như thế trở thành một cặp đối lập khập khiễng: một từ tiếng Anh, một từ tiếng Pháp. Trên thực tế, thuật ngữ “langue” mà Saussure sử dụng trong tiếng Pháp, mang nghĩa rộng hơn nhiều so với từ “language” trong tiếng Anh.

Thuật ngữ “chủ nghĩa phân bố Mỹ” là “American distributionalism” thì ông hồn nhiên chua đến 2 lần thành “American distributionism” (?!) (trang 25 và 69). Thuật ngữ “morphophonème” nghĩa là “hình âm vị”, đã được hai tác giả trên chua đúng thì ông Tồn lại “phát minh” thành “hình âm vị học”. Ông bảo “ngôn ngữ học mô tả” là “desciptive linguistics” (đúng phải là “descriptive linguistics”). Tiếp theo, ông tuyên bố  “mô tả” là “descibe” (trang 22) (!?)

Lại nữa, khi ông sao chép một số từ tiếng nước ngoài từ văn bản gốc, nó cũng bị tam sao thất bản. Từ “glossématique” (trang 191) trong sách gốc bị ông chép thành “glossémantique” (trang 43). Tên nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha cũng bị ông đổi tên không thương tiếc: Horalek thành Horanek… Trớ trêu hơn, thuật ngữ “chức năng thi pháp” trong tiếng Pháp ở sách gốc bị đánh máy nhầm thành “function poétique” (đáng ra phải là “fonction poétique”) (trang 198). Thế nhưng, ông Tồn vẫn hồn nhiên bê nguyên cả cái sự “bé cái nhầm” này vào sách mình (trang 49). Nếu với những ví dụ khác, ông Tồn có thể bao biện sự trùng lặp là do “hai tư tưởng lớn gặp nhau”, thì với ví dụ này, ông không thể cãi là không đạo văn được, vì không thể có “hai tư tưởng sai gặp nhau” được.

Nếu thông thường thì những lỗi sai trên có thể đổ cho bộ phận biên tập hay đánh máy. Thế nhưng, chính ông Tồn đã khẳng định trong lời nói đầu rằng cuốn sách của ông đã nhận được “nhiều công sức biên tập” của bà Vũ Thị Sao Chi, Phó Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ. Vậy, hà cớ gì đổ cho người biên tập hay đánh máy được.

Sự thật thứ ba là đây không phải là lần đầu tiên ông Tồn dính líu đến việc đạo văn. Đây chỉ là một phần “tảng băng chìm” của hàng loạt các công trình đạo văn có hệ thống khác của ông Tồn đã và đang bị báo chí phanh phui trong suốt thời gian qua. Điều đáng nói là đây là nếu như các công trình bị quy là đạo văn trước kia được xuất bản trước khi ông được công nhận chức danh giáo sư thì cuốn sách có nội dung đạo văn mới bị phát hiện này lại xuất bản năm 2013, nghĩa là sau khi ông Tồn được nhận chức danh giáo sư 4 năm. Điều này càng củng cố cơ sở cho nhận định rằng việc đạo văn của ông Tồn là có hệ thống và liên tục trong một thời gian dài. Đúng là “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. PGS.TS Hoàng Dũng cho rằng “Với thêm phát hiện thành tích đạo văn mới, từ nay không nên hỏi “Cuốn sách nào của ông Nguyễn Đức Tồn là đạo văn?”, mà là “Công trình nào ký tên ông Nguyễn Đức Tồn mà… KHÔNG đạo văn?”

Đáng sợ nhất là cuốn sách đạo văn này lại đang được sử dụng để giảng dạy cho các nghiên cứu sinh tại Học viện Khoa học Xã hội. Ai có thể đảm bảo được rằng với những hàng nhái kiểu như thế này, chúng ta sẽ đào tạo được những tiến sĩ có chất lượng.

Trong bối cảnh ngành giáo dục đào tạo đang quyết liệt với các vụ việc tiêu cực nổi cộm gần đây, như vụ gian luận điểm thi tốt nghiệp ở Hà Giang, liệu có thể tiếp tục dung túng cho vụ việc gian lận “gan nuốt búa” thế này? Liệu đến bao giờ hành vi đạo văn của ông Tồn mới được xử lý đích đáng để trả lại sự liêm chính, minh bạch và niềm tin trong học thuật

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s