Tranh đấu cho đồng thuận về tự trị đại học, tự do học tập và tư do giảng dạy

Viết bởi Tiến sĩ Phạm Đình Bá (Canada) và sinh viên K.P (Việt Nam)

Bài viết thuộc Chương trình minh bạch giảng đường do Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam tổ chức.  

dai_hoc_khoa_hoc_xa_hoi_va_nhan_van_dhqg_ha_noi.jpg

Nền tảng và lý do

Đất nước trong tương lai sẽ thuộc vào các thế hệ trẻ, con cái của dân thành thị chụp giựt cho miếng ăn từng ngày, của nông dân chân lấm tay bùn, của công nhân quần quật trong các nhà máy của người nước ngoài, của dân chài bị rược đuổi và bắn phá bởi cộng sản Trung Quốc trên biển Đông, và của những người dấn thân cho tương lai, tỉ dụ như chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Các người độc quyền đảng trị và các ông cựu đảng viên mất quyền trong tranh chấp quyền lợi dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt đất nước cho con cháu họ, bất kể những hệ lụy cho dân oan, quyền lợi chung, và toàn vẹn lảnh thổ. Sự mâu thuẩn về viễn tượng cho tương lai đất nước giữa những người tiến bộ dấn thân và những kẻ thống trị là rất lớn. Quyết định dấn thân là lựa chọn để tạo dựng tương lai cho nhiều người và phủ nhận đặc quyền của thiểu số thống trị. Trong lịch sử đấu tranh cho tiến bộ xã hội, sinh viên đóng vai trò tiền phong, với thành công và thành nhân lẫn lộn, ví dụ như hoạt động của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn trước 1975, biểu tình trên Quảng Trường Thiên An Môn 1989, biểu tình Cách mạng Cây Dù cuả Liên Đoàn sinh viên Hồng Kông 2016, và nhiều ví dụ khác. Thế hệ sinh viên chúng ta cũng có những đắn đo cho sự thật và công bằng xã hội.

Các thầy cô có lẽ cũng có những mâu thuẩn tương tự về tư duy. Thầy Phạm Minh Hoàng dạy giỏi và hành xử với tư cách của một nhà giáo chân chính. Thầy Phạm Tấn Hạ hoang mang trong cách đối phó với quyền lực đàn áp quyền công dân và nhân phẩm của chị sinh viên Trương Thị Hà.(1) Thay vì bảo vệ học trò mình thì thầy lựa chọn đặt vị trí của đảng lên trên vị trí của một nhà giáo. Thầy Hạ và các thầy lựa chọn đặt vị trí của đảng trên việc giáo dục sinh viên nên nhớ điều nầy. Đảng có thể trục xuất thầy Hoàng khỏi quê hương nhưng đảng không thể trục xuất quê hương khỏi tâm hồn và tri thức của thầy Hoàng. Đảng không thể khống chế tư duy và suy nghĩ của hơn 90 triệu dân ta. Trong cuộc đấu tranh cho tương lai, ý tưởng là chủ động.

John Maynard Keynes, một nhà kinh tế người Anh sáng tạo nhiều ý tưởng cơ bản góp phần vào các thay đổi lý thuyết và thực hành kinh tế vĩ mô, từng nói “… ý tưởng … cả khi đúng và khi sai, có tiềm năng thay đổi rất lớn mà ít người hiểu hết. Tất cả bị điều động bởi ý tưởng, không bởi cái gì khác cả.” Trong kinh tế tri thức, ý tưởng về ý tưởng của Keynes là tâm điểm của cuộc đấu tranh cho tương lai.

Chương trình hành động của Nghiệp Đoàn Sinh Viên là cải cách học thuật, minh bạch giảng đường, và tái thiết đất nước. Chúng tôi được phân công để thu thập dữ kiện cho các thảo luận về chương trình hành động của Nghiệp Đoàn, so sánh về tình trạng giáo dục đại học ở Việt Nam và các nước châu Âu và Bắc Mỹ, tương phản cấu trúc, quá trình kết quả của học thuật và đào tạo ở đại học Việt và đại học nước ngoài. Cụ thể là chúng tôi tìm cách trả lời hai câu hỏi sau đây.

#1: Vai trò của cải cách học thuật và giảng dạy trong tái thiết đại học.

#2: Đánh giá các yếu tố quan trọng cho sinh viên và giảng viên trong việc cải cách học thuật và minh bạch giảng đường.

Học tập và giảng dạy ở đại học Việt Nam

Cấu trúc

Đảng kiểm soát chặc chẻ việc học tập và giảng dạy ở các đại học Việt Nam qua các tổ chức đảng đoàn trong trường, kiểm soát sinh hoạt của sinh viên và giảng viện, với mọi quyết định quan trọng đều thông qua sự chỉ đạo của đảng. Theo thông cáo của đảng, đảng khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của đảng trong giáo dục và đào tạo, bao gồm đẩy mạnh các hoạt động giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, triển khai có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các hoạt động giáo dục cho đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên trong trường học thông qua các hoạt động Đoàn, Hội, Đội.(2)

Việc tuyển chọn, bố trí, phân cấp, điều động, luân chuyển cán bộ và phân cấp quản lý đều bị chỉ đạo bởi đảng (3). Trong nhiều thập niên, đảng triển khai một chế độ kỳ thị chính kiến trong giáo dục, khai trừ khỏi học thuật và đào tạo học sinh có lý lịch trái với định kiến của đảng.(4) Trong chính sách kỳ thị nầy, đảng lẫn lộn giữa quyền lợi của dân tộc và quyền lợi của thiểu số thống trị.

Trong nhiều thập kỷ, sinh viên sống dưới sự chỉ đạo của đảng bị chi phối trong việc học tập chuyên ngành bởi việc học tập chính trị, không khác gì một cầu thủ chỉ được huấn luyện kỹ thuật bóng đá nếu cầu thủ ấy học thuộc lòng phê bình kinh tế chính trị của Mác. Sinh viên bị đánh giá về phẩm chất chính trị và “đạo đức”. Theo thông báo của đảng, điểm rèn luyện là một trong những tiêu chí quan trọng để xét khen thưởng, xét học bổng trong quá trình học tập, đồng thời là căn cứ quan trọng để sinh viên sau khi ra trường thể hiện bản thân trước nhà tuyển dụng.(5) Nguồn “Sinh viên nói vì sinh viên” đặt câu hỏi: “Bạn có ủng hộ điểm rèn luyện là một tiêu chí đánh giá tốt nghiệp, xét lưu trú, xét thôi học, xét việc làm thêm, xét học bổng hiếu học hay không?”(6)

Đảng góp phần không nhỏ vào sự chia rẻ giữa giảng viên, đảng viên và không đảng viên. Thầy Phạm Minh Hoàng kể lại rằng thầy đánh giá các đảng viên ở trường Đại Học Bách Khoa TPHCM không như những người thầy đúng nghĩa, họ chỉ là những người gác cổng bảo vệ cho chế độ, vì chế độ ấy đã cho họ tất cả.(1) Điều này có thể dẫn đến những xung đột lợi ích nghiêm trọng vì các “thầy” này có thể đặt quyền lợi của đảng lên trên khoa học và lợi ích của sinh viên. Cần nhấn mạnh ở đây là không chỉ xung đột lợi ích thực sự là quan trọng. Chỉ riêng việc nhận thức từ những người khác về việc có thể xung đột lợi ích cũng là mối quan tâm lớn, thật hay giả là một điều cần phán quyết sau.(7)

Một giảng viên mà không minh bạch về lúc nào thì nói về tài liệu khoa học xen lẫn với giáo điều có thể dạy về một mệnh đề P nếu giảng viên ấy dạy với ý định làm cho người học tin vào mệnh đề P bất kể bằng chứng. Hậu quả của kiểu dạy nầy là học sinh sẽ tạo nên thói quen bỏ qua bằng chứng hay dử liệu liên quan đến việc chuẩn định về mệnh đề P, mặc cho sai hay đúng.(8) Một ví dụ cụ thể là đảng viên lãnh đạo Đà Nẵng đi tắm biển sau khi đảng thất bại trong việc che đậy vụ ô nhiễm biển miền Trung vào 2016; quyết định đi nhúng nước nầy không từ kết quả kiểm nhiệm môi trường mà từ phủ nhận sự đồng thuận trong các nhà khoa học Việt Nam về nguồn gốc của chất độc từ Formosa. Lãnh đạo cao cấp của ngành an ninh sau đó viện dẫn hành động của lãnh đạo Đà Nẵng là một minh chứng rõ nhất cho việc nước biển không bị ô nhiễm.(9) Không quan tâm đến dữ kiện khoa học là hậu quả của giáo điều. Xã hội ta sẽ phải chịu đựng hậu quả của các hành vi nầy của đảng trong việc quản lý đất nước bao lâu nữa?

Đảng khẳng định sự triển khai có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và xã hội chủ nghĩa, (2) dẫn đến việc áp đặt giáo điều xã hội chủ nghĩa trên học thuật và giảng dạy. Sự nhồi sọ của giáo điều trong học tập và đào luyện dẫn đến thiển cận, học sinh có thể bị truyền bá để tin vào những điều giả dối và thỉnh thoảng, tin vào nhửng điều đúng sự thật. Có thể biện luận rằng giáo điều đúng sự thật là hay hơn là giáo điều dựa trên sự giả dối. Nhưng trong một khung viên nhà trường dù cao hay thấp, giáo điều đóng góp vào thiển cận và bảo thủ.(8) Thiển cận là trái ngược với sự cởi mở trong suy nghỉ – một giá trị trong tiềm năng của từng người. Cởi mở là căn bản cho cách suy luận về điều gì là đúng hay sai. Không thể biện luận là cởi mở trong suy nghĩ cần phải bị giảm bớt vì lý do nầy hoặc giá trị chung kia. Bởi vì biện luận như vậy là không tôn trọng tự do suy nghĩ, và một khi đã hành xử như vậy, sẽ tiếp tục dùng đủ thứ lý do để hạn chế suy nghĩ. Đây là phân tranh giữa giáo điều, thiển cận, hẹp hòi, và cởi mở, tri thức của sự hiểu biết và giá trị đạo đức của quyền tự trị trong suy nghĩ và hành động.(8)

Các trường đại học và cao đẳng bị cắt giảm tiền tài trợ và hoạt động với tiền thiếu hụt nghiêm trọng. Theo một cuốn nghiên cứu về tình trạng giáo dục ở Việt Nam xuất bản bởi các nghiên cứu sinh Việt Nam và cộng sự ở Úc (với các quan điểm thể hiện phần nào chính sách giáo dục của đảng), tham nhũng là đầy rẫy trong một số tổ chức ở đại học.(10) Trong khi các tỉnh chi tiền cho ngành giáo dục đại học, cung cấp 55% tổng ngân sách của các cơ sở giáo dục đại học công lập, học phí cung cấp 42% ngân sách. Việc thiếu tiền làm hạn chế nghiệp vụ thư viện, như thiếu tạp chí và sách quốc tế (cả trong bản mềm và bản in) đã khiến cho việc dạy học, học tập và nghiên cứu không bằng các đại học nước ngoài, và quan trọng hơn nữa, bị cô lập khỏi thế giới học thuật.(10) Nếu chúng ta trả gần phân nửa ngân sách đại học, có ai nghe và hỏi ý kiến chúng ta không? Bao giờ thì chúng ta mới đòi hỏi những điều quan trọng cho sinh viên chúng ta?   

Quá trình

Theo nội dung của cuốn sách về giáo dục Việt Nam viết từ Úc, các nghiên cứu sinh Việt và Úc nhận định rằng hệ thống quản lý tập trung, quan liêu và lỏng lẻo với sự kiểm soát chồng chéo của các bộ khác nhau dẫn đến mức độ tự chủ, trách nhiệm giải trình và tự do học tập rất thấp.(10) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và sau đó là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, đã thú nhận năm 2009 rằng chất lượng giáo dục đại học chưa được quản lý trong 30 năm qua. Những yếu kém trong kỷ năng chuyên nghiệp của lãnh đạo các cấp đã dẫn đến những nghịch lý trong tổ chức chương trình giảng dạy, nội dung và cơ sở giảng dạy đã lỗi thời, và năng lực nghiên cứu không đầy đủ của đội ngũ giảng viên. Nghiên cứu không được chú ý tới cho đúng mức. Đạo đức trong học tập bị nhầm lẫn với đạo đức về tuân thủ theo đảng. Do đó, gian lận và đạo văn là một hiện tượng phổ biến ở cấp đại học và sau đại học. Chính sách và quản lý nguồn nhân lực không phù hợp, thiếu một hệ thống đánh giá hợp lý và công bằng, giảng viên chỉ chú trọng đến việc giảng dạy từ kiến thức củ, giảng viên không có điều kiện để nghiên cứu, sáng tạo và tìm cách cải thiện kiến thức và phát minh những kiến thức mới.   

Kết quả từ cấu trúc và quá trình

Trong cuốn sách về giáo dục Việt Nam viết từ Úc, các nghiên cứu sinh Việt và Úc tóm tắc rằng Việt Nam có tài năng cho kiến ​​thức, học tập và kỹ năng, cũng như tài năng cho các phản ứng sáng tạo và linh hoạt đối với các vấn đề thực tiễn. Đây là những phẩm chất thúc đẩy nghiên cứu tốt nhất trên thế giới. Tinh thần giảng dạy và học tập và sự tôn trọng kiến ​​thức được đánh giá cao trong tri thức của người Việt. Tuy nhiên, tình trạng giáo dục là không chỉnh. Các trường đại học ở Việt Nam đang tụt hậu so với các trường khác ở châu Á. Trong thời đại kinh tế tri thức, các trường đại học Việt Nam không đáp ứng đúng vai trò của đại học trong việc dẫn đầu về nghiên cứu, đổi mới và hiện đại hóa.(10)

Cũng theo cuốn sách trên, vấn đề cấp bách nhất là chất lượng giáo dục đại học thấp, đặc biệt là đào tạo và nghiên cứu. Sinh viên tốt nghiệp được cho là thiếu các kỹ năng cơ bản để phân tích và giải quyết vấn đề. Về kết quả nghiên cứu, số lượng ấn phẩm trong các tạp chí khoa học rất thấp so với mức sản xuất tri thức của các giảng viên vùng Đông Nam Á. Không có cơ sở giáo dục đại học nào ở Việt Nam được quốc tế công nhận về chất lượng; không có tổ chức nào được liệt kê trong các bảng xếp hạng hoặc bảng xếp hạng quốc tế hoặc châu Á. Giáo dục đại học của Việt Nam đã tụt hậu so với giáo dục ở các quốc gia ASEAN.(10) Sinh viên chúng ta có hài lòng về kết luận nầy không?

Học tập và giảng dạy ở đại học ở châu Âu và Bắc Mỷ

Cấu trúc

Kiến thức đến từ một quá trình học tập dài để đạt đến kỷ năng mà phân định cái gì là đúng, cái gì là trật. Quá trình học tập nầy không những đòi hỏi trí tưởng tượng, kỹ năng phân định hợp lý và khả năng suy nghĩ độc lập, mà còn đòi hỏi sự can đảm để làm theo suy nghĩ đến từ trong lý luận – kể cả hành động có thể đi ngược với mọi xu hướng hiện hành.(11)

Vai trò của đại học trong việc giáo dục và đào tạo: Khu vực giáo dục đại học châu Âu (EHEA) đã kêu gọi xây dựng khuôn khổ giáo dục đại học dựa trên tự chủ trong đại học, tự do học tập, cơ hội bình đẳng và các nguyên tắc dân chủ. Điều nầy sẽ tạo thuận lợi cho tính di động, tăng khả năng làm việc và tăng cường sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của châu Âu. EHEA công nhận rằng, trong một thế giới đang thay đổi, sẽ có nhu cầu tiếp tục cải cách và hoàn chỉnh các hệ thống giáo dục đại học cho thích nghi với thời đại, để đảm bảo rằng EHEA có khả năng cạnh tranh và có thể phản ứng hiệu quả với những thách thức của toàn cầu hóa, trong khung cảnh mà sinh viên và giảng viên có thể làm việc và trao đổi không phân biệt quốc gia.(12)

EHEA nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của các tổ chức giáo dục đại học trong phát triển xã hội, dựa trên truyền thống của đại học là trung tâm học tập, nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao kiến ​​thức cũng như vai trò quan trọng của các tổ chức giáo dục đại học trong việc xác định và truyền tải các giá trị mà xã hội trân trọng. Mục tiêu của EHEA là đảm bảo rằng các tổ chức giáo dục đại học có các nguồn lực cần thiết để tiếp tục thực hiện đầy đủ các mục đích của họ. Những mục đích đó bao gồm: chuẩn bị sinh viên cho cuộc sống như những công dân tích cực trong một xã hội dân chủ; chuẩn bị sinh viên cho nghề nghiệp tương lai và cho phép phát triển cá nhân tới mức độ phù hợp với lựa chọn từ cá nhân; tạo dựng và duy trì cơ sở kiến ​​thức rộng; và kích thích nghiên cứu và đổi mới. Việc đào tạo đại học ở Âu Châu thường dùng một kết hợp của các mục đích này.

Trông người mà nghĩ đến ta. Giả sử nguyên tắc của EHEA được ứng dụng ở Việt Nam, việc chị Trương Thị Hà thể hiện quan điểm đối với việc toàn vẹn lảnh thổ là phù hợp với quyền tự do phát biểu và hoàn toàn chính đáng trong việc đào tạo đại học của chị – đào tạo để trở thành một công dân tốt trong một xã hội dân chủ. Ngược lại, thầy Phạm Tấn Hạ không hiểu được vai trò cơ bản của đại học trong một xã hội dân chủ và do đó, thể hiện sự thiếu năng lực của một giảng viên. Việc thầy Phạm Tấn Hạ ở vào vai trò lảnh đạo và quyết định việc học hỏi của sinh viên là một điều rất đáng ngại, trừ trường hợp hiển nhiên là đảng chỉ định “thầy” để làm lợi cho đảng, bất kể thiệt hại cho sinh viên. Chúng ta có nên hỏi thầy Hạ mỗi khi thầy giảng dạy về xung đột lợi ích không? Có phải thầy đang dạy theo kiến thức khoa học không?

Thầy Phạm Minh Hoàng nhận định rằng các đảng viên ở trường đại học không như những người thầy đúng nghĩa, họ chỉ là những người gác cổng bảo vệ cho chế độ, vì chế độ ấy đã cho họ tất cả. (1) Trong trường hợp của thầy Hạ, nhận định nầy rất đúng. Tưởng cũng nên nhắc lại rằng hầu hết các phương pháp giáo dục phương Tây quan niệm rằng học tập không chỉ đơn giản là vấn đề phát triển tài nguyên và kỹ năng. Học tập cũng là một quá trình tạo dựng và phát triển một bản sắc xã hội, văn hóa và cá nhân.(11)

Nhiệm vụ chính của các tổ chức học tập cao là để tạo điều kiện cho việc khai phá các tri thức mới. “Các tổ chức học tập cao”, như von Humboldt đã viết, “đối xử với tất cả tri thức như là một vấn đề chưa được giải quyết hoàn toàn … trái ngược với các trường học cấp dưới, nơi mà kiến thức được coi như là chân lý đã hoàn thành và mọi người đều chấp nhận kiến thức đó. Ở các thể chế học tập cao hơn, ‘giảng viên không làm việc vì lợi ích của sinh viên; cả sinh viên và giảng viên đều học hỏi và nghiên cứu để khai phá các tri thức mới’.(11) Việc làm nầy chỉ có thể hiện thực qua tự do giảng dạy và học tập và sự tự chủ của đại học đối với chính quyền và các quyền lực chính trị liên hệ.

Tự do học tập và giảng dạy

Tự do học tập và giảng dạy là quan điểm cho rằng tự do học tập, giảng dạy và nghiên cứu là nguyên tắc căn bản của các tổ chức học tập cao. Sinh viên và giảng viên phải có quyền tự do giảng dạy hoặc truyền đạt rộng rãi các ý tưởng, kiến thức và dữ kiện liên hệ. Trong việc truyền đạt nầy, sinh viên và giảng viên phải được nhà cầm quyền bảo vệ mà không bị coi như là mục tiêu của trả thù, đàn áp, mất việc làm, hoặc bỏ tù, nhất là khi việc quảng bá nầy trái với các điều mong muốn của nhà cầm quyền.(13)

Tự do học tập của sinh viên bao gồm không chỉ có quyền bất đồng mà không bị phạt, mà còn bởi sự tự do học tập tránh khỏi sự áp bức, sự thuyết phục của các giảng viên về quan điểm riêng của giảng viên theo cách có ảnh hưởng không tốt đến tri thức trẻ; và tự do về việc bảo đảm không có các quan điểm đối lập bị che đậy và ngăn dữ lại từ họ. Tòa án tối cao Hoa Kỳ xác định: “Quốc gia của chúng tôi cam kết bảo vệ tự do học thuật, đánh giá tự do nầy như là một đồng thuận lớn trong xã hội, và không chỉ giới hạn việc đảm bảo nầy trong khung viên đại học. Tương lai của Quốc gia phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo được đào tạo thông qua việc tiếp xúc rộng rãi và trao đổi các ý tưởng để phát hiện ra sự thật…” (14)

Ở Athens cổ đại, và, khi Châu Âu bước vào giai đoạn thức tỉnh trí tuệ mới, ở những nơi như Bologna, Oxford, và Paris, các trường đại học bắt đầu như các hội nghị tự nguyện và tự phát hoặc các buổi gọp mặt để học sinh diễn thuyết, viết và học. Chất lượng và sức mạnh sáng tạo của đời sống trí thức của sinh viên cho đến ngày nay vẫn là một thước đo quan trọng về ảnh hưởng và thành tựu của các trường đại học. Nếu các trường nầy, theo quy định, để từ chối các quan điểm khác nhau của sinh viên, là vi phạm tự do ngôn luận và trói buộc nghiên cứu sáng tạo tại một trong những trung tâm quan trọng cho đời sống trí thức.(14)

Tự trị đại học

Để thành công trong nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy, các trường đại học cần có khả năng tự trị, và quyền quyết định trong các vấn đề mà trường coi là quan trọng. Tự trị và tự do học tập là quan trọng đối với hoạt động tốt của các trường đại học và là những trụ cột quan trọng của sự bền vững trong tương lai của các trường nầy. Các quyền nầy là chìa khóa để đảm bảo các điều kiện nghiên cứu phù hợp dẫn đến tiến bộ khoa học, mang lại lợi ích cho xã hội.(15)

Trong khi quyền tự trị đại học làm cho việc quản trị, học tập, giảng dạy và nghiên cứu có hiệu quả hơn là thiếu vắng quyền nầy, chính phủ cần phải giải quyết các vấn đề như quản lý số học sinh, chuẩn định học phí và cung cấp kinh phí cho các trường đại học kém hiệu quả. Các vấn đề liên quan đến học phí thường gây nhiều tranh cãi. Nếu các trường đại học nhận tiền từ quỹ công, một câu hỏi thực tế là làm sao trường có thể thực sự tự trị từ chính phủ.(16)

Trên đất nước ta, chính quyền miền Nam trước 1975 đã tôn trọng tự trị đại học, ngay cả lúc Tổng Hội sinh viên Sài Gòn hoạt động chống lại chính quyền trong khung viên đại học.(17) Thử hỏi đảng có đủ can đảm để làm chuyện nầy hay không?

Xung đột lợi ích trong nghiên cứu và giảng dạy

Tiến đến minh bạch trong xữ lý các xung đột lợi ích trong nghiên cứu và giảng dạy là một trong những nguyên tắc căn bản trong hoạt động khoa học ở các nước.(18) Thử áp dụng vấn đề nầy ở các đại học của ta. Với sự hiện diện của đảng đoàn trong đại học, việc xung đột lợi ích trở thành cấp tính bởi vì ranh giới giữa khoa học và giáo điều trở nên không rõ ràng. Một sinh viên bày tỏ ý kiến ​​của mình có thể được thúc đẩy bởi kiến thức khoa học hoặc giáo điều, và rất có thể là một sự pha trộn giữa hai khía cạnh, mà ngay cả chính người diễn đạt cũng không hoàn toàn thông suốt. Tương tự như vậy, việc giảng dạy có thể từ một quan điểm khoa học hoặc giáo điều. Việc làm rõ các nguồn nầy là cần thiết. Nếu không, tính hợp lệ của các cuộc thảo luận và giảng dạy là không chỉnh. Chúng ta có vui lòng trả phân nữa học phí để được nhồi sọ với giáo điều không? Tại sao các con cháu của lãnh đạo đi học nước ngoài?

Quá trình

Các nghiên cứu cho thấy rằng có một tương quan tích cực giữa các thông tin nghiên cứu (xuất bản bài báo và trích dẫn trong các tạp chí khoa học hàng đầu) và sự hiệu quả của các nhà lãnh đạo điều hành các trường đại học, như phó hiệu trưởng hay hiệu trưởng. Các nhà nghiên cứu xuất sắc lảnh đạo tốt ở những trường đại học hàng đầu thế giới. Trung bình, trường đại học có xếp hạng toàn cầu cao hơn thường được lãnh đạo bởi những nhà nghiên cứu với nhiều thông tin nghiên cứu hơn. Các hiệu trưởng ưu tú trong các lĩnh vực nghiên cứu của họ có nhiều khả năng hiểu được nhu cầu bảo vệ tự do học thuật trong các tổ chức mà họ lãnh đạo hơn là các hiệu trưởng không có kinh nghiệm nghiên cứu, hoặc những người được chỉ định trên cơ sở không chuyên môn.(15) Có bao nhiêu hiệu trưởng các đại học Việt Nam được bổ nhiệm vì quá trình khoa học, bao nhiêu vì quá trình theo đảng? Đây có phải là một vấn đề cho minh bạch giảng đường không?

Niềm tin của công chúng trong quá trình khoa học và độ tin cậy vào các cuộc thảo luận và báo cáo khoa học phụ thuộc một phần vào khung cách các xung đột lợi ích được quản lý một cách minh bạch trong quá trình tiến hành và báo cáo nghiên cứu. Tất cả những người liên quan nên và phải tiết lộ bất kỳ xung đột lợi ích thực sự hoặc các vấn đề có thể được coi như là xung đột lợi ích. Thảm họa môi trường Formosa 2016 là một tỉ dụ về việc xung đột lợi ích của đảng. Cá chết rửa đã trôi trên bãi biển Hà Tĩnh từ ít nhất 6 tháng tư 2016.(19) Một số lượng lớn cá đã chết trên bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế vào 18 tháng 4 2016. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức họp báo vào ngày 27 tháng 4, tuyên bố rằng hai nghi phạm chính về sự hủy diệt sinh vật biển là thủy triều đỏ và độc tố do con người tạo ra. Có ai tin vào giải thích nầy lúc đó không? Đâu là động cơ về việc che dấu? Việc quản lý xung đột lợi ích trong việc nầy có chỉnh không?

Kết quả từ cấu trúc và quá trình

Nghiên cứu cho thấy rằng khi sự tò mò trí tuệ vốn có trong tự do học tập được thỏa hiệp hay giới hạn cho phù hợp thể chế theo yêu cầu của các chức năng hành chính, kết quản là tầm thường trong học thuật.(14) Điều nầy có liên quan đến tình trạng hiện nay hay không?

Tổng kết

Chúng tôi so sánh ở trên đây cấu trúc, quá trình và kết quả hoạt động của các trường đại học Việt Nam và đại học nước ngoài. Việc nghiên cứu nầy chưa đúng mức vì thời gian có hạn (và đây là một dự án còn tiếp tục). Các bài tới sẽ khai triển thêm về các đề tài nầy, như là tác hại của giáo điều và tiềm năng của cởi mở trong tư tưởng và tư duy phê phán. Những đề nghị bên dưới chỉ nên coi như là tạm thời, đang tiến triển và chưa hoàn chỉnh, với mục đích chỉ là để khơi lên các suy nghĩ và bàn luận trên diễn đàn của Nghiệp Đoàn và các bạn sinh viên để thu kiện dữ liệu cho việc lập các điểm tốt hơn cho hành động và đổi mới.

  1. Tranh đấu để làm giảm thiểu ảnh hưởng và tiến tới xóa bỏ điểm rèn luyện

Lý do: 1) có rất ít nước trên thế giới bao gồm việc nầy trong chương trình đại học, 2) việc đánh giá nầy là chủ quan, mở ra nhiều cơ hội cho việc vi phạm tư cách của sinh viên, và 3) thời gian và nỗ lực trong các việc liên hệ đến điểm rèn luyện có thể dùng vào các việc khác có nhiều lợi ích hơn cho tất cả mọi người liên hệ.

Đề nghị cách làm: khảo sát thời gian dùng trong việc đánh giá và quản lý điểm rèn luyện theo quan điểm của sinh viên (tỉ dụ như 20 giờ cá nhân mỗi học kỳ của chị Như) và trường (tỉ dụ như 400 giờ nhân sự mỗi học kỳ từ phân khoa nha ở đại học Huế), bàn luận rộng rải về sự lảng phí của điểm rèn luyện, khảo sát sự vụ và các tranh đấu tương tự ở Trung Hoa, viết và giao tiếp các kết quả nầy, đo lường mức độ đáp ứng của sinh viên và giảng viên, và hoàn thiện cách triển khai của dự án nầy.

  1. Quản lý xung đột lợi ích trong minh bạch giảng đường

Lý do: 1) minh bạch về xung đột lợi ích là phổ biến trong công tác khoa học ở khắp nơi (có lẽ trừ Việt Nam), 2) phục hồi lòng tin của công chúng trong các kết quả từ nghiên cứu khoa học (tỉ dụ như để tránh việc chính phủ dùng “giải thích khoa học” giả tạo để che dấu nguyên nhân vào thời gian đầu của thảm họa môi trường Formosa), và 3) tôn trọng sự thành thực và hành xử một cách chuyên nghiệp trong đại học và xã hội.

Đề nghị cách làm: 1) người nghe nên hỏi người đối thoại là họ dùng quan điểm nào, quan điểm của đảng hay dữ kiện và lý luận khoa học, 2) người nói nên xác nhận minh bạch quan điểm mình dùng. Các câu hỏi nầy là hợp lý cho sinh viên, giảng viên và các đối tượng trong tranh luận, trao đổi và giảng dạy.

  1. Đảm bảo sự tự trị của đại học và tự do học tập và giảng dạy

Lý do: 1) nâng cao giá trị đào tạo để sinh viên ra trường với kỷ năng chuyên nghiệp trên nền tảng khoa học ứng dụng hay lý thuyết cao, 2) nâng cao tiềm năng nghiên cứu, giảng dạy và khám phá của đại học Việt Nam, 3) tạo điều kiện thuận lợi đề các đại học tự lựa chọn và trở thành xuất sắc trên các mục đích đào tạo khác nhau, bao gồm: chuẩn bị sinh viên cho cuộc sống như những công dân tích cực trong một xã hội dân chủ; chuẩn bị sinh viên cho nghề nghiệp tương lai và cho phép phát triển cá nhân tới mức độ phù hợp với lựa chọn từ cá nhân; tạo dựng và duy trì cơ sở kiến ​​thức rộng; và kích thích nghiên cứu và đổi mới, 4) tạo điều kiện thuận lợi để các đại học Việt Nam có thể trở nên xuất sắc ngang hàng với các đại học ở châu Á (tỷ dụ như các đại học quốc gia được xếp hạng cao trong các khảo sát giá trị đại học ở châu Á và thế giới, ở vào hàng top 100 trong 2023), và 5) tạo điều kiện thuận lợi để các đại học trở thành đầu tàu cho khám phá, đổi mới và thay đổi xã hội tích cực.

Đề nghị cách làm: tranh đấu, thảo luận và giải thích cho sinh viên, giảng viên, phụ huynh và công chúng về lý do cần thiết cho việc cải cách để tạo đồng thuận trong xã hội, tạo  tiềm lực cho thay đổi, để dần dần thiết lập tự trị đại học và tự do học tập và giảng dạy.

Xin các bạn đọc đóng góp ý kiến cho các đề nghị trên. Bài viết và đóng góp xin gởi về Nghiệp Đoàn theo địa chỉ email info@nghiepdoansinhvien.org. Chúng tôi xin cám ơn trước về những suy nghĩ và đóng góp của các bạn.

Phạm Đình Bá- K.P , Thành viên Nghiệp Đoàn sinh viên Việt Nam

Tài liệu

  1. https://nghiepdoansinhvien.org/2018/07/02/giao-su-pham-minh-hoang-thu-gui-sinh-vien-truong-thi-ha/
  2. https://www.moet.gov.vn/van-ban/vbdh/Pages/vbpq-print.aspx?ItemID=2052
  3. https://tuoitre.vn/bo-chinh-tri-quy-dinh-ve-phan-cap-quan-ly-can-bo-va-bo-nhiem-gioi-thieu-can-bo-ung-cu-20171221205022406.htm
  4. https://tuoitre.vn/tu-hao-truyen-thong-vung-niem-tin-tiep-buoc-429512.htm
  5. https://www.hutech.edu.vn/phongctsv/hoat-dong/van-hoa-van-nghe/14558153-mot-so-cau-hoi-thuong-gap-trong-danh-gia-ket-qua-ren-luyen-sinh-vien
  6. https://nghiepdoansinhvien.org/2018/06/29/diem-ren-luyen-va-nhung-dieu-chua-biet/
  7. Recommendations for the Conduct, Reporting, Editing, and Publication of Scholarly Work in Medical Journals. http://www.icmje.org/icmje-recommendations.pdf
  8. Callan, Eamonn and Dylan Arena (2009). “Indoctrination.” In H. Siegel, ed., Oxford handbook of philosophy of education. Oxford: Oxford University Press.
  1. http://trandaiquang.org/sang-304-lanh-dao-da-nang-tam-bien-thu-hut-nguoi-dan-va-du-khach.html
  2. Lý Thị Trần, Simon Marginson, Hoàng Minh Đỗ, et al. Higher Education in Vietnam: Flexibility, Mobility and Practicality in the Global Knowledge Economy. Palgrave Macmillan, 2014
  3. Pavel Zgaga. Higher Education and Citizenship: ‘the full range of purposes’. European Educational Research Journal 2009; 8(2):175-188.
  4. http://www.eua.be/Libraries/publication/2014_EUA_MoU_report.pdf?sfvrsn=2
  5. https://en.wikipedia.org/wiki/Academic_freedom
  6. Terence Karran. Academic Freedom: In Justification of a Universal Ideal. Centre for Educational Research and Development, University of Lincoln, LN6 7TS UK. http://eprints.lincoln.ac.uk/1612/1/ProofSHEArticle1ForRepository.pdf
  7. Peter Maassen, Åse Gornitzka, Tatiana Fumasoli. University reform and institutional autonomy: A framework for analysing the living autonomy. Higher Educ Q. 2017; 71:239–250.
  8. https://www.nytimes.com/2011/11/21/world/europe/university-autonomy-varies-widely-in-europe.html
  9. https://nghiepdoansinhvien.org/2018/07/04/ha-dinh-nguyen-jean-paul-sartre-viet-nam-thu-linh-sinh-vien-sai-gon-da-qua-doi/
  10. http://www.icmje.org/conflicts-of-interest/
  11. https://en.wikipedia.org/wiki/2016_Vietnam_marine_life_disaster
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s