Hồi ức về trường đại học Văn khoa Sài Gòn

 Bùi Văn Nam Sơn (cựu sinh viên Văn khoa 1964 – 1968)

Khi “phụng mệnh” Ban tổ chức nắn nót viết bốn đại tự “Văn Khoa hương đảng” (Làng Văn khoa) để trang trí cho cổng trường nhân ngày hội Tết truyền thống, tôi không ngờ mình rồi sẽ rời xa ngôi trường thân yêu này lâu đến vậy. Bởi sau đó là Mậu Thân khói lửa, là những cuộc chia ly, có khi là vĩnh viễn, như với các anh Lê Quang Lộc, Trần Triệu Luật…

36584986_10211656103108691_2522539352135827456_o.jpg

Mãi gần bốn mươi năm sau, vào một ngày hè 2005, nhờ anh Lương Văn Hồng, nguyên giảng viên khoa Văn học Đức giới thiệu, tôi được giáo sư Doãn Chính và Phó Giáo sư Đinh Ngọc Thạch phụ trách khoa Triết tiếp chuyện thân tình, nhân tôi đến tặng Thư viện của khoa bản dịch và chú giải quyển “Phê phán lý tính thuần túy” vừa mới ấn hành. Đặt chân lên những bậc thang lầu quen thuộc của mái trường xưa, lòng rộn lên bao nỗi cảm hoài! Ít lâu sau, tôi được Giáo Sư Phạm Đình Nghiệm mời đến giới thiệu bản dịch và chú giải quyển “Khoa học Logic” (Bách khoa thư I) của Hegel cho lớp học do giáo sư phụ trách. Những khuôn mặt trẻ trung, dễ thương, khao khát học hỏi của các bạn sinh viên gợi lại hình ảnh hoa niên của chúng tôi ngày trước.

Nhân dịp kỷ niệm 200 năm Đại học Humboldt – mô hình đại học hiện đại của thế giới, ngày 22-3-2011 cũng tại ngôi trường này (với tên gọi mới: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn), tôi được tham gia buổi hội thảo quy mô về “tinh thần đại học” bên cạnh ba diễn giả là Tiến sĩ Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng trường Đại học Hoa Sen, giáo sư Đoàn Lê Giang, trưởng khoa Văn học và Ngôn ngữ, cùng Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Xuân Xanh. Không nén được xúc động, trong phần đầu bài thuyết trình của mình, tôi hướng đến đông đảo các bạn “đồng môn” trẻ trung của tôi để ôn lại những tháng ngày mình “đã được trở thành sinh viên”, “đã được trở thành người lớn” như thế nào. Sẽ là người học trò già vô ơn, nếu tôi không nhớ lại sâu sắc những tháng ngày ấy!

Mới hôm qua đây thôi, khi còn là một cậu học sinh trung học, ta suốt ngày quần xanh áo trắng đồng phục, mang bản tên trên túi áo. Đột nhiên, hôm nay, ta tha hồ ăn mặc theo ý thích, có người còn chưng diện nữa. Việc “trọng đại” trước hết là sắm một… đôi giày! Không đủ tiền, đám sinh viên nghèo chúng tôi lội khắp “khu dân sinh”, nơi chuyên bán đồ phế thải, để tậu một đôi giày há mõm. Giày há mõm vẫn … giày, bởi đó là bằng chứng xác nhận “tư cách” để hiên ngang bước vào “giảng đường”, chứ không còn phải bước vào “lớp học”, bởi đại học dứt khoát không phải là trường phổ thông cấp 4, và bởi tôi đã thành… sinh viên!

Còn chỗ ngồi nữa. Hôm qua phải ngồi vào chỗ nhất định trên những chiếc băng dài giống hệt nhau. Hôm nay mỗi người một ghế, muốn mang ghế đi đâu cũng được, kể cả ra hành lang ngắm trời xanh mây trắng. Bởi tôi đã là sinh viên, tự làm chủ thời khóa biểu của mình! Vào giảng đường, không vị giáo sư nào gọi chúng tôi bằng “em”, mà bằng “anh chị”. Giáo sư Lê Thành Trí, dạy triết học hiện sinh và logic học, lúc nào cũng cố ý: “Thưa các Ông, các Cô!” để biểu thị tinh thần đại học. Tôi nhớ đến cách xưng hô trịnh trọng của triết gia Hegel khi giảng bài: “Meine Herren!” (Thư Quý Ngài!). Chẳng phải đại học, ngay từ Hiến chương thành lập Đại học Vienna năm 1365, phải là một cộng đồng khoa học bình đẳng giữa thầy và trò (universitas magistorum cum studentorum), nếu nó muốn trở thành nơi nghiên cứu và giảng dạy tri thức trong tính phổ quát (universitas litterarum) đó sao?

“Tính phổ quát” ấy ít nhiều cũng đã được thể hiện một cách đặc sắc trong tình trạng còn khá phôi thai, thiếu thốn về điều kiện nghiên cứu và giảng dạy. Ở khoa Triết chúng tôi lúc ấy có khá nhiều vị giáo sư là các vị linh mục, trong đó có cả linh mục người Pháp (linh mục Gauthier, chuyên dạy về Platon, Aristoteles và triết học Hy Lạp cổ đại). Nhưng, đằng sau tấm áo linh mục đạo mạo ấy là các thầy giáo triết học đích thực khi các vị bước vào giảng đường đối diện với sinh viên. Ở đó, họ cố gắng trình bày và diễn giải một cách trung thực các trào lưu tư tưởng khác nhau trong lịch sử, kể cả những quan điểm phản bác và phê phán tôn giáo, và, nếu đưa ra nhận định, thì đó là ý kiến cá nhân, không mang tính áp đặt đối với người học. Đây thực sự là điểm son đáng ghi nhận, bởi chỉ với thái độ như thế, tinh thần tự do nghiên cứu và giảng dạy (chủ trương cốt lõi của Đại học Humboldt) mới có cơ bám rễ và lan tỏa.

Rồi khi phong trào quần chúng đô thị chống chiến tranh, đòi Hòa bình dâng lên, chúng tôi còn được học thêm một bài học đáng giá: quyền tự trị đại học. Khi còn là sinh viên, do thiếu thông tin, chúng tôi không thể biết hết những tình tiết phức tạp chung quành sự tự trị đại học về ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Nhưng, sinh viên ít ra vẫn có thể dựa vào quyền tự trị đại học như là một quyền “hiến định” làm cơ sở pháp lý để … tự vệ trước sự đàn áp của chính quyền. Và quả thật, lực lượng “cảnh sát dã chiến” có thể “dàn chào” ở trước cổng trường, công an mật vụ có thể lùng sục khắp nơi để bắt bớ những sinh viên tranh đấu, nhưng khuôn viên đại học trước sau vẫn là mảnh đất “thiêng”, không dễ xâm phạm! Nói theo ngôn ngữ của Humboldt, đại học luôn phải là “vương quốc của chân lý”, là thành trì của tự do trước mọi đảo điên của thế cuộc.

36585245_914137585437796_1986256781935902720_n.jpg

Được hưởng chút ít hương vị ngọt ngào ấy của tinh thần Đại học Humboldt trong những năm tháng đẹp nhất của đời mình nơi quê hương khói lửa, tôi hòa nhập dễ dàng vào môi trường đại học an bình ở nước ngoài. Có thể kém cỏi về năng lực chuyên môn, nhưng vẫn tự tin, vì thấy mình “thẳng lưng” và bình đẳng với bè bạn năm châu.

Đại học nước ta đang đứng trước những thử thách gay gắt về triết lý giáo dục và chất lượng đào tạo. Giáo sư Lê Xuân Khoa, người thầy đầu tiên dạy chúng tôi những kiến thức vỡ lòng về triết học Ấn Độ năm nào, kết thúc bài viết tâm huyết của mình: “Đại học miền Nam trước 1975. Hồi tưởng và nhận định” như sau: “Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thầy cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên, sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống Đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo đất nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt là nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới”.

Thầy nay đã vào lứa tuổi đại lão. Người học trò chập chững của Thầy năm xưa nay cũng đã quá tuổi hưu trí!

“Thiếu tiểu ly hương lão đại hồi
Hương âm bất cải mấn mao thôi”

Than ôi, tóc bạc về quê! Khoảng tháng chín năm 2011 này, tôi sẽ lại sung sướng cắp sách đến trường cũ, vì lần đầu tiên, được phụ trách một môn học dành cho các bạn nghiên cứu sinh khoa văn về sự giao thoa giữa triết học – văn học – mỹ học. Niềm vui muộn màng như một dịp trả ơn thầy và đền nghĩa bạn. Chỉ e, nói như Thi Nại Am: “đánh đùng đã trái thời, thì việc không còn mấy!”.

15-4-2011

(Bài viết trích từ cuốn Văn khoa – Một thời sống đẹp, trang 160)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s